Chương tám
mươi mốt.
Bài hát lễ
Soạn cho nhạc trưởng để dùng với đàn ghi-tít. Bài ca của A-sáp.
Hãy hát mừng cho Thượng Đế,
sức mạnh của chúng ta;
hãy cất tiếng hoan hô Thượng Đế của Gia-cốp.
Hãy trỗi nhạc và đánh trống cơm vang rền.
Hãy tấu nhạc dịu dàng bằng đờn cầm và đờn sắt.
Hãy thổi kèn vào ngày Trăng Mới.,
trỗi lên lúc trăng tròn. để ăn mừng.
Đây là luật lệ cho Ít-ra-en;
và là mệnh lệnh của Thượng Đế của Gia-cốp.
Ngài ban qui tắc nầy cho nhà Giô-xép,
khi họ ra khỏi đất Ai-cập.
Tôi nghe một thứ tiếng mà tôi không hiểu bảo rằng,
“Ta đã cất gánh nặng khỏi vai chúng nó;
Ta lấy giỏ nặng khỏi tay chúng.
Khi gặp khốn đốn ngươi kêu van, ta liền giải cứu ngươi.
Ta trả lời ngươi qua tiếng sấm.
Ta thử ngươi tại các suối Mê-ri-ba..
Xê-la
Hỡi dân ta, hãy nghe. Ta muốn cảnh tỉnh các ngươi.
Hỡi Ít-ra-en, hãy lắng nghe ta!
Ngươi không được có các thần khác;
ngươi không được thờ phụng các thần ngoại quốc.
Ta, Chúa và là Thượng Đế ngươi,
Đấng mang ngươi ra khỏi Ai-cập.
Hãy hả miệng ra ta sẽ đút cho ngươi ăn.
Nhưng dân ta không chịu nghe ta;
Ít-ra-en không muốn có ta.
Cho nên ta để họ tự ý đi đường ương ngạnh,
tự làm theo ý muốn riêng mình.
Ta mong dân ta lắng nghe ta;
Ta ao ước Ít-ra-en sống theo đường lối ta.
Như thế ta mới có thể mau chóng đánh bại kẻ thù của họ
và trở tay nghịch lại địch thủ họ.
Những kẻ ghét Chúa sẽ cúi đầu trước mặt Ngài.
Chúng sẽ bị trừng phạt đời đời.
Nhưng ta sẽ ban cho ngươi lúa mì hảo hạng
và cho ngươi no nê mật ong từ tảng đá.
…………..
Chương tám mươi hai.
Lời kêu xin công lý
Bài ca ngợi của A-sáp.
Thượng Đế chủ tọa hội của các thần.;
Ngài phân xử giữa các thần.
Ngài hỏi, “Các ngươi bênh vực
kẻ ác cho đến chừng nào?
Các ngươi thiên vị người bất lương cho đến bao giờ?”
Xê-la
Hãy bênh vực người yếu thế và kẻ mồ côi;
hãy bênh vực quyền của người nghèo khó và kẻ khốn khổ.
Hãy cứu người yếu đuối và kẻ cô thế;
giải thoát họ khỏi quyền lực
kẻ ác.
“Các ngươi. chẳng
biết gì cả.
Các ngươi không hiểu gì hết.
Các ngươi dò dẫm đi trong bóng tối trong khi thế gian đang sụp
đổ.”
Ta bảo, “Các ngươi là thần..
Các ngươi đều là con của Thượng Đế Chí Cao.
Nhưng các ngươi sẽ chết như loài người;
sẽ sụp đổ như mọi lãnh tụ.”
Thượng Đế ôi, xin hãy đến phân xử thế gian
vì tất cả các dân đều thuộc về Ngài.
…………………….
Chương tám mươi ba.
Cầu xin Chúa diệt kẻ thù
Bài ca ngợi của A-sáp.
Thượng Đế ôi, xin chớ làm thinh và bất động.
Kẻ thù Ngài đang tự phụ,
những kẻ ghét Ngài đang chuẩn bị tấn công.
Chúng âm mưu chống lại dân Ngài;
chúng định tâm nghịch những kẻ Ngài yêu dấu.
Chúng bảo, “Chúng ta hãy tiêu diệt toàn quốc gia nầy đi
để không ai còn nhớ tên ‘Ít-ra-en’ nữa.”
Chúng liên kết lập mưu.
Bọn đó đã lập ước nghịch Ngài:
các gia tộc Ê-đôm cùng người Ích-ma-ên, Mô-áp và Ha-ga-rít,
các dân Ghê-banh., Am-môn, A-ma-léc,
Phi-li-tin và Tia.
Đến cả A-xy-ri cũng nhập chung
với chúng để giúp Am-môn
và Mô-áp,
là dòng dõi của Lót.
Xê-la
Thượng Đế ôi, xin ra tay đánh chúng nó như Ngài đã ra tay đánh
Mi-đi-an,
và như Ngài đã làm cho Si-sê-ra và Gia-bin ở sông Kít-sôn.
Chúng ngã chết tại Ên-đô-rơ,
thây chúng mục nát trên đất.
Xin đối xử với các lãnh tụ chúng
như Ngài đã làm cho Ô-rép
và Xê-ép.
Xin phạt các lãnh tụ chúng
như Ngài đã làm cho Xê-ba
và Xanh-mu-na.
Chúng bảo, “Chúng ta hãy chiếm lấy các đồng cỏ của Thượng Đế.”
Lạy Thượng Đế, xin hãy khiến chúng như cỏ rơm,
như trấu bị gió thổi bay.
Xin Ngài hãy thiêu đốt chúng như lửa đốt rừng,
như các luồng lửa thiêu rụi các đồi núi.
Xin dùng giông bão của Ngài rượt đuổi chúng,
và dùng gió lốc khiến chúng hoảng sợ.
Xin lấy sỉ nhục bao phủ chúng.
Lạy Chúa, bấy giờ chúng sẽ tìm kiếm Ngài.
Xin khiến chúng sợ hãi và sỉ nhục mãi mãi.
Xin hãy sỉ nhục và tiêu diệt chúng đi.
Bấy giờ chúng sẽ biết Ngài là Chúa,
và rằng chỉ một mình Ngài là Đấng Chí Cao cai trị khắp thế
gian.
…………………
Chương tám mươi bốn.
Ao ước được ở trong đền thờ Chúa
Soạn cho nhạc trưởng để dùng với đàn ghi-tít. Bài ca của con
cháu Cô-rê.
Lạy Chúa Toàn Năng, đền thờ Ngài thật đẹp!
Tôi chỉ ao ước được ở trong sân của đền thờ Ngài.
Con người tôi chỉ muốn hát ca ngợi Thượng Đế hằng sống.
Con chim sẻ tìm được nơi ở,
và chim én tìm được nơi xây tổ.
Chúng nó nuôi con gần bàn thờ Ngài.
Phúc cho người được sống trong đền thờ Ngài;
họ sẽ luôn luôn ca ngợi Ngài.
Xê-la
Phúc cho người nhận được sức lực từ nơi Ngài,
tức những người muốn đi đến Giê-ru-sa-lem.
Đang khi họ đi qua thung lũng Ba-ca,
họ sẽ biến nó ra suối nước.
Mưa thu làm ngập các vũng nước.
Họ càng bước tới Giê-ru-sa-lem càng sung sức,
mỗi người ra mắt Thượng Đế
tại đó.
Lạy Thượng Đế Toàn Năng,
xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi,
Thượng Đế của Gia-cốp ôi, xin hãy lắng nghe tôi.
Xê-la
Lạy Thượng Đế, Đấng che chở. chúng tôi;
xin hãy đối xử nhân từ cùng vua mà Ngài đã bổ nhiệm.
Một ngày trong sân đền thờ Thượng Đế,
quí hơn một ngàn ngày ở nơi khác.
Tôi thà giữ làm người gác cửa cho đền thờ Chúa,
hơn là sống trong nhà kẻ ác.
Chúa là Thượng Đế giống như mặt trời và cái thuẫn;
Chúa ban nhân từ và vinh dự.
Ngài không từ chối ban những điều tốt cho những ai ăn ở lương
thiện.
Lạy Chúa Toàn Năng, phúc cho những ai tin cậy nơi Ngài.
………………
Chương tám mươi lăm.
Lời cầu nguyện cho quốc gia
Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca ngợi của con cháu Cô-rê.
Lạy Chúa, Ngài đã tỏ lòng nhân từ cùng đất nước Ngài;
Ngài mang con dân Gia-cốp
trở về.
Ngài tha thứ lầm lỡ của họ
và xóa bỏ tội lỗi họ.
Xê-la
Ngài không còn tức giận;
và thu hồi cơn thịnh nộ Ngài.
Lạy Thượng Đế là Đấng Cứu Chuộc chúng tôi,
xin hãy mang chúng tôi trở về.
Xin đừng giận chúng tôi nữa.
Ngài sẽ giận chúng tôi mãi sao?
Ngài vẫn còn tức giận từ đời nầy sang đời kia sao?
Ngài sẽ không khiến chúng tôi sống lại nữa sao?
Dân Ngài sẽ vui mừng trong Ngài.
Lạy Chúa, xin hãy tỏ ra tình yêu Ngài và cứu chúng tôi.
Tôi sẽ lắng nghe lời Chúa là Thượng Đế tôi.
Ngài nói về sự an bình cho dân Ngài và những người thờ kính
Ngài.
Họ không nên trở lại con đường ngu dại nữa.
Thượng Đế sẽ sớm cứu những kẻ kính sợ Ngài,
và đất nước chúng ta sẽ nhận được vinh hiển Ngài..
Tình yêu và lòng trung tín của Chúa sẽ gặp nhau;
sự công chính và hoà bình sẽ chào nhau,
để ban phúc cho dân Ngài.
Sự trung thành sẽ mọc lên từ đất,
và sự công chính sẽ nhìn xuống từ trời..
Thật vậy, Chúa sẽ ban những điều tốt lành,
đất đai chúng ta sẽ sinh sản hoa màu.
Sự công chính sẽ đi trước Thượng Đế để dọn đường cho Ngài.
………………
Chương tám mươi sáu.
Lời kêu cứu
Lời cầu nguyện của Đa-vít.
Chúa ôi, xin hãy nghe và đáp lời tôi,
vì tôi khốn khổ và bị áp bức.
Xin hãy bảo vệ tôi vì tôi trung thành với Ngài.
Xin hãy cứu tôi, kẻ tôi tớ
hằng tin cậy nơi Ngài, là Thượng Đế tôi.
Lạy Chúa, xin hãy thương xót tôi vì suốt ngày tôi kêu cầu cùng
Ngài.
Lạy Chúa, xin ban hạnh phúc cho tôi, kẻ tôi tớ Chúa,
vì Chúa ôi, tôi dâng mạng sống tôi cho Ngài.
Lạy Chúa, Ngài nhân từ và hay tha thứ,
Ngài hằng tỏ lòng yêu thương lớn lao cho những kẻ kêu xin
Ngài.
Chúa ôi, xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi,
lắng nghe khi tôi nài xin ơn thương xót.
Tôi kêu cầu Ngài đang khi gặp khốn khó vì Ngài đáp lời tôi.
Lạy Chúa, không có thần nào giống như Ngài,
cũng không có công việc nào giống công việc Chúa làm.
Lạy Chúa, các nước mà Ngài đã lập sẽ đến thờ phụng Ngài.
Họ sẽ tôn trọng Ngài.
Ngài là Đấng cao cả và hay làm những điều kỳ diệu.
Chỉ một mình Chúa là Thượng Đế.
Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi biết
ý muốn Ngài,
thì tôi sẽ sống bằng chân lý Ngài.
Xin dạy cho đời tôi biết hết lòng kính sợ Ngài.
Lạy Chúa là Thượng Đế tôi,
tôi sẽ hết lòng ca ngợi Ngài,
và tôn kính danh Chúa muôn đời.
Ngài đã tỏ tình yêu lớn lao đối với tôi.
Ngài đã cứu tôi khỏi chết.
Lạy Thượng Đế, bọn kiêu căng tấn công tôi;
một lũ côn đồ tìm cách giết tôi.
Chúng không kính sợ Ngài.
Nhưng Chúa ơi, Ngài là Thượng Đế giàu lòng thương xót và nhân
từ.
Ngài chậm giận, dạt dào tình yêu và thành tín.
Xin hãy quay qua tôi và tỏ lòng thương xót.
Xin thêm sức cho kẻ tôi tớ Chúa.
Xin hãy cứu vớt con trai. của tớ gái Ngài.
Xin hãy tỏ dấu hiệu rằng Ngài lo cho tôi.
Để các kẻ thù của tôi nhìn thấy
thì chúng sẽ bị xấu hổ
vì Ngài là Đấng giúp đỡ và an ủi tôi.
…………………
Chương tám mươi bảy.
Chúa ưa thích Giê-ru-sa-lem
Bài ca ngợi của con cháu Cô-rê.
Chúa xây dựng Giê-ru-sa-lem trên các núi thánh.
Ngài ưa thích các cổng Xi-ôn hơn các nơi khác trong Ít-ra-en.
Hỡi thành của Thượng Đế,
người ta nói rất nhiều điều kỳ diệu về ngươi.
Xê-la
Thượng Đế phán, “Ta sẽ đặt Ai-cập. và Ba-by-lôn
trong danh sách các quốc gia biết ta.
Các dân Phi-li-tin, Tia và Ê-thi-ô-bi đều sinh trưởng từ nơi
đó.”
Họ nói về Giê-ru-sa-lem như sau,
“Người nầy, người nọ sinh ra ở đó.”
Thượng Đế Chí Cao sẽ thêm sức cho thành ấy.
Chúa sẽ giữ một danh sách các quốc gia.
Ngài ghi chú rằng, “Người nầy sinh tại đó.”
Xê-la
Họ sẽ nhảy múa hát xướng,
“Mọi điều tốt lành đều từ ngươi mà ra, hỡi Giê-ru-sa-lem.
…………………
Chương tám mươi tám.
Lời kêu ca buồn thảm
Bài ca ngợi của con cháu Cô-rê soạn cho nhạc trưởng. Lời cầu
nguyện xin CHÚA chữa bệnh. Theo giọng Ma-ha-lát Lê-an-nốt. Thể mạch-kinh của
Hê-man người Ếch-ra-hít.
Chúa ôi, Ngài là Thượng Đế, Đấng cứu tôi.
Cả ngày lẫn đêm, tôi kêu cầu cùng Chúa.
Xin hãy nghe lời khẩn nguyện tôi,
lắng nghe tiếng kêu xin của tôi.
Đời tôi đầy khốn khổ, tôi hầu như sắp chết.
Người ta nghĩ rằng tôi đang đi xuống mồ.
Tôi như người kiệt sức.
Tôi bị bỏ mặc cho chết,
như xác nằm trong mồ,
như những kẻ mà Ngài không nhớ tới nữa,
hoàn toàn bị cách xa quyền năng Chúa.
Chúa đã đặt tôi trong mồ sâu tăm tối của sự chết.
Cơn giận Ngài nổi phừng cùng tôi;
các lượn sóng Chúa bao trùm tôi.
Xê-la
Chúa đã làm cho bạn hữu tôi xa lánh tôi,
khiến họ ghét tôi.
Tôi bị mắc kẹt không thoát được.
Mắt tôi lòa vì than khóc.
Chúa ôi, tôi cầu nguyện cùng Chúa mỗi ngày.
Tôi giơ tay lên cầu nguyện cùng Chúa.
Ngài có tỏ phép lạ cho người chết không?
Họ có sống dậy để ca ngợi Ngài không?
Xê-la
Tình yêu Ngài có được rao truyền nơi huyệt mả không?
Sự thành tín Ngài có được rao giảng nơi cõi chết. không?
Phép lạ Ngài có được biết đến trong mồ mả đen tối không?
Sự nhân từ Ngài có được biết đến nơi đất lãng quên không?
Nhưng Chúa ôi, tôi đã kêu cứu cùng Ngài;
mỗi sáng tôi cầu nguyện với Ngài.
Lạy Chúa, sao Ngài lìa bỏ tôi?
Sao Ngài ẩn mặt cùng tôi?
Tôi yếu ớt và hấp hối từ khi còn trẻ.
Tôi gánh chịu sự kinh khiếp của Ngài,
tôi hoàn toàn kiệt quệ.
Ngài đã nổi giận cùng tôi,
cơn kinh khiếp của Chúa tàn hại tôi.
Chúng vây tôi hằng ngày như nước lụt.
Chúng đến quanh tôi.
Ngài đã lấy người thân và bạn bè tôi đi.
Tôi phải làm bạn với bóng tối.
……………….
Chương tám mươi chín.
Bài ca về sự thành tín của Thượng Đế
Do Ê-than người Ếch-ra-hít soạn theo thể mạch-kinh.
Tôi sẽ luôn luôn ca ngợi tình yêu Chúa;
Từ nay về sau tôi sẽ thuật lại sự thành tín Ngài.
Tôi sẽ nói, “Tình yêu Chúa còn đời đời;
sự thành tín Chúa vững bền như bầu trời,”
Ngài phán, “Ta đã lập giao ước với người ta đã chọn;
Ta đã hứa cùng tôi tớ ta là Đa-vít.
Ta hứa với người,
‘Ta sẽ khiến gia tộc ngươi còn mãi.
Nước ngươi sẽ còn đời đời.’”
Xê-la
Lạy Chúa, các từng trời ca ngợi phép lạ Ngài.
Các người thánh Chúa ca tụng sự thành tín Ngài.
Trên trời có ai bằng Chúa?
Không có thần nào giống như Ngài.
Những người thánh, tức các thiên sứ quanh ngôi, họp nhau lại
thì họ kính sợ Ngài;
Ngài đáng kinh sợ hơn cả các thiên sứ chầu quanh Ngài.
Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng, có ai giống như Ngài?
Chúa ôi, Ngài quyền năng và thành tín.
Ngài cai quản đại dương gầm thét
và dẹp các lượn sóng cồn.
Chúa đập nát Ra-háp., con quái vật của nó trở thành xác chết.
Ngài dùng sức mạnh phân tán các kẻ thù Ngài.
Trời đất đều thuộc về Chúa.
Chúa tạo nên thế giới và muôn vật trong đó.
Chúa lập ra phương Bắc và phương Nam.
Các núi Ta-bô và Hẹt-môn hát mừng.
Cánh tay Ngài có quyền năng
lớn lao.
Tay Ngài mạnh mẽ; tay phải Ngài giơ cao lên.
Nước Ngài được xây dựng trên nền công bằng và chính trực.
Tình yêu và sự thành tín đi trước Ngài.
Phúc cho người học tập ca ngợi. Ngài.
Lạy Chúa, đó là những người bước đi trong ánh sáng của sự
hiện diện Ngài.
Họ vui mừng trong Chúa mỗi ngày,
luôn luôn ca tụng lòng nhân ái Ngài.
Ngài là sức mạnh vinh hiển của họ,
Quyền năng của họ do Ngài mà ra.
Thuẫn che chở của chúng tôi
là vua, Đấng thánh của Ít-ra-en.
Trước đây, trong sự hiện thấy,
Chúa phán với những kẻ trung thành đi theo Ngài.
Ngài bảo, “Ta đã ban sức mạnh cho dũng sĩ,
Từ trong dân ta, ta đã cất nhắc một chàng trai trẻ.
Ta đã tìm được Đa-vít, kẻ tôi tớ ta;
Ta đã đổ dầu thánh ta lên người để bổ nhiệm người.
Tay ta sẽ giữ người đứng vững,
cánh tay ta sẽ thêm sức mạnh cho người.
Không có kẻ thù nào kiểm soát người,
cũng không có kẻ ác nào đánh thắng người được.
Ta sẽ đè bẹp kẻ thù người trước mặt người;
Ta sẽ đánh bại các kẻ ghét người.
Lòng thành tín và tình yêu ta sẽ ở cùng người.
Người sẽ vững mạnh trong ta.
Ta sẽ ban cho người quyền trên đại dương,
và quyền kiểm soát các sông ngòi.
Người sẽ thưa với ta, ‘Ngài là Cha tôi,
Là Thượng Đế, Khối Đá và là Đấng Cứu Rỗi tôi.’
Ta sẽ lập người làm con trưởng nam ta,
vua cao sang nhất trên đất.
Tình yêu ta sẽ chăm nom người mãi mãi,
giao ước ta với người sẽ không bao giờ chấm dứt.
Ta sẽ làm cho gia tộc người còn mãi,
và nước người bền như bầu trời.
Nếu con cháu người gạt bỏ sự dạy dỗ ta,
không theo luật lệ ta,
nếu chúng không đếm xỉa đến
điều ta muốn,
bất vâng phục mệnh lệnh ta,
thì ta sẽ trị tội chúng bằng roi,
chỉnh sự sai lầm chúng bằng roi quất.
Nhưng ta sẽ không rút lại tình yêu ta cho Đa-vít,
hay ném bỏ sự thành tín ta.
Ta sẽ không phá giao ước hoặc thay đổi điều ta đã hứa.
Ta đã hứa qua sự thánh khiết ta,
ta sẽ không nói dối với Đa-vít,
Gia tộc người sẽ còn đời đời.
Nước người sẽ bền mãi trước mặt ta như vầng thái dương.
Vương quốc người sẽ còn đời đời,
như mặt trăng, một nhân chứng đáng tin trên bầu trời.”
Xê-la
Nhưng nay Chúa đã từ chối và gạt bỏ vua Ngài bổ nhiệm.
Chúa đã nổi giận cùng người.
Chúa đã bỏ giao ước với tôi tớ Ngài
và ném mão triều người xuống đất.
Chúa đã phá sập các tường thành người;
biến các thành kiên cố người ra nơi hoang tàn.
Người qua kẻ lại đều cướp đoạt người.
Láng giềng người sỉ nhục người.
Chúa đã tiếp tay cho kẻ thù nghịch,
khiến chúng đâm ra khoái trá.
Chúa khiến gươm giáo người ra vô dụng;
Ngài không giúp đỡ người trong chiến trận.
Chúa khiến người bại trận,
và dẹp quyền cai trị vinh hiển của người.
Chúa đã cắt ngắn đời người,
bao phủ người bằng sỉ nhục.
Xê-la
Lạy Chúa, tình trạng nầy kéo dài đến bao giờ?
Chúa sẽ lánh mặt mãi sao?
Cơn giận phừng của Chúa sẽ còn đến bao giờ?
Xin nhớ rằng đời tôi rất ngắn ngủi.
Phải chăng Chúa muốn chúng tôi trở nên vô dụng.?
Có người nào sống mà không phải chết?
Có ai thoát được sức mạnh của mồ mả đâu?
Xê-la
Lạy Chúa, tình yêu xưa kia mà Ngài đã hứa?
Ngài hứa với Đa-vít rằng Ngài sẽ thành tín với gia đình
người.
Chúa ôi, xin nhớ rằng chúng sỉ nhục các tôi tớ Chúa;
đừng quên rằng tôi đã gánh chịu sự sỉ nhục của các dân.
Chúa ôi, các kẻ thù nghịch đã chế giễu tôi;
hễ gặp vua được Ngài chọn ở đâu thì chúng sỉ nhục đến đó.
Ca ngợi Chúa mãi mãi!
A-men! A-men!
……………………
Chương chín mươi.
Quyển
Thượng Đế còn đời đời; còn con người
chỉ sống tạm thời
Lời cầu nguyện của Mô-se, người của Thượng Đế.
Lạy Chúa, từ xưa đến nay Ngài là nguồn cứu giúp của chúng tôi.
Trước khi núi non sinh ra,
trước khi Ngài sáng tạo trái đất và thế gian,
Chúa là Thượng Đế, Ngài có từ xưa và còn đời đời.
Ngài biến loài người trở thành bụi đất.
Ngài phán, “Hỡi loài người,
hãy trở về với cát bụi.”
Đối với Chúa, ngàn năm như một ngày qua đi,
hay một vài giờ trong đêm.
Đời sống chúng tôi như giấc mộng,
chấm dứt khi buổi sáng đến.
Chúng tôi giống như cỏ,
buổi sáng đâm chồi và mọc lên,
nhưng đến chiều đã chết héo.
Chúng tôi bị cơn giận Ngài tiêu diệt;
và kinh hoàng vì cơn thịnh nộ Ngài.
Chúa đặt những điều ác mà chúng tôi làm trước mặt Ngài;
Ngài thấy rõ các tội lỗi kín giấu của chúng tôi.
Chuỗi ngày chúng tôi chấm dứt khi Ngài nổi giận.
Các năm tháng chúng tôi kết thúc như tiếng thở dài.
Đời chúng tôi chỉ có bảy mươi tuổi
còn nếu khỏe mạnh
thì được tám mươi.
Nhưng các năm tháng ấy đều đầy lao khổ.
Chúng qua mau, rồi chúng tôi biến mất.
Ai biết được sức mạnh của cơn giận Ngài?
Sự kính sợ của chúng tôi đối với Ngài cũng lớn bằng cơn giận
Ngài.
Xin dạy chúng tôi biết đời mình
ngắn ngủi ra sao để chúng tôi thêm khôn ngoan.
Chúa ơi, bao giờ thì Chúa sẽ trở lại
và tỏ lòng nhân từ cho các tôi tớ Ngài?
Mỗi sáng xin hãy đổ tình yêu Ngài trên chúng tôi.
Thì trọn đời chúng tôi sẽ hát mừng.
Chúng tôi đã thấy những năm tháng khốn khó.
Bây giờ xin hãy ban sự vui mừng cho chúng tôi
tương xứng với những khổ đau mà Ngài đặt trên chúng tôi.
Xin hãy cho các tôi tớ Ngài thấy những việc diệu kỳ của Ngài;
hãy tỏ sự cao cả Ngài cho con cái họ.
Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi,
xin ban ơn cho chúng tôi.
Xin giúp chúng tôi thành công trong mọi việc.
Xin giúp chúng tôi thành công.
…………………..
Chương chín mươi mốt.
An ninh trong Chúa
Người nào ẩn náu trong Đấng Chí Cao
sẽ được Đấng Toàn Năng bảo vệ.
Tôi thưa cùng Chúa rằng,
“Ngài là nơi ẩn náu và thành lũy tôi.
Ngài là Thượng Đế tôi,
nên tôi tin cậy nơi Ngài.”
Chúa sẽ giải cứu ngươi
khỏi những hiểm nguy ngầm
và những bệnh tật hiểm nghèo.
Ngài sẽ che phủ ngươi,
Ngươi có thể ẩn náu dưới cánh Ngài.
Sự thành tín Ngài là cái thuẫn
che chở ngươi.
Ngươi sẽ không sợ nguy hiểm ban đêm hay tên bay ban ngày.
Cũng không sợ dịch lệ trong bóng tối,
hay bệnh tật tàn phá giữa trưa.
Dù bên cạnh ngươi có hàng ngàn người chết,
bên phải ngươi hàng vạn người gục ngã,
nhưng ngươi sẽ không bị tổn hại gì.
Ngươi chỉ cần nhìn và chứng kiến kẻ ác bị trừng phạt.
Chúa là nơi che chở ngươi;
ngươi đã chọn Đấng Chí Cao làm nơi trú ẩn của mình.
Sẽ không có điều gì chẳng lành
đến cho ngươi,
cũng chẳng có thảm họa nào viếng lều ngươi.
Ngài đã sai thiên sứ chăm nom ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi.
Các thiên sứ sẽ giữ ngươi trong tay để chân ngươi khỏi vấp
nhằm đá.
Ngươi sẽ đạp trên sư tử và rắn;
ngươi sẽ dẫm lên sư tử hung hăng và rắn rít.
Chúa phán, “Ai yêu mến ta,
ta sẽ giải cứu người ấy.
Ta sẽ bảo vệ những người biết ta.
Họ sẽ kêu xin ta, ta sẽ đáp lời.
Ta sẽ ở cùng họ trong cảnh nguy khốn;
Ta sẽ giải cứu họ và tôn trọng họ.
Ta sẽ cho họ mãn nguyện sống lâu,
và họ sẽ thấy ta sự cứu rỗi của ta.
…………………
Chương chín mươi hai.
Cảm tạ sự nhân từ Chúa
Bài ca dùng vào ngày Sa-bát.
Ca ngợi Chúa và chúc tụng Đấng Chí Cao là điều tốt.
Thuật lại sự yêu thương Chúa
vào buổi sáng và sự thành tín Ngài vào buổi chiều là điều
tốt.
Kèm theo đờn sắt mười dây
và đờn cầm dìu dặt.
Lạy Chúa, những việc Ngài làm khiến tôi hớn hở;
Tôi sẽ hát mừng về những việc tay Ngài làm.
Lạy Chúa, Ngài đã làm những việc lớn lao!
Tư tưởng Ngài vô cùng sâu sắc!
Kẻ ngu si không thể hiểu biết,
người điên dại không am tường.
Lũ gian ác mọc lên như cỏ.
Bọn gian tà thịnh vượng,
nhưng chúng sẽ bị tiêu diệt
đời đời.
Nhưng, Chúa ôi, Ngài sẽ được tôn cao muôn đời.
Lạy Chúa, hãy nhìn các kẻ thù Ngài,
Chúng sẽ bị tiêu diệt.
Tất cả các kẻ gian ác sẽ bị tản lạc.
Nhưng Ngài làm cho tôi mạnh như trâu..
Ngài đổ dầu hảo hạng trên tôi.
Khi tôi nhìn thì tôi thấy kẻ thù tôi bị ngã xuống;
tôi nghe tiếng kêu la của bọn gian ác nghịch tôi..
Nhưng người nhân đức
sẽ lớn mạnh như cây chà là,
sẽ cao vút như cây hương nam ở Li-băng.
Những người được trồng trong đền thờ Chúa,
họ lớn mạnh trong sân Thượng Đế.
Dù đã già, họ vẫn sinh hoa quả;
vẫn khoẻ mạnh xanh tươi.
Họ chứng tỏ rằng Chúa rất nhân lành.
Ngài là Khối Đá tôi, luôn làm điều chân chính.
……………
Chương chín mươi ba.
Sự oai nghi của Chúa
Chúa là vua, Ngài mặc sự uy nghi.
Chúa mặc oai nghi và nai nịt bằng sức mạnh.
Thế gian đã được an bài,
sẽ không lay chuyển.
Nước Ngài vững lập từ xưa;
Ngài còn đời đời.
Chúa ơi, biển vang dội,
các đại dương gầm thét,
biển cả đập sóng ầm ầm vào bờ.
Tiếng nước sóng vang rền;
các luồng phong ba mãnh liệt,
nhưng Chúa còn vĩ đại hơn.
Lạy Chúa, luật lệ Ngài vững bền mãi..
Đền thờ Ngài muôn đời thánh khiết.
………………..
Chương chín mươi bốn.
Thượng Đế sẽ báo trả kẻ thù nghịch Ngài
Lạy Chúa là Thượng Đế trừng phạt.
Xin hãy đến trừng phạt chúng.
Hỡi quan án của thế gian,
hãy đứng dậy và trừng phạt
đích đáng bọn kiêu căng.
Bọn gian ác sẽ hớn hở đến bao giờ?
Bao lâu nữa, thưa Chúa?
Chúng nói toàn lời ngạo mạn;
Những kẻ gian ác huênh hoang chuyện chúng làm.
Chúa ôi, chúng chà đạp dân Ngài,
làm khổ những kẻ thuộc về Ngài.
Chúng giết kẻ góa bụa,
lữ khách tạm trú trong xứ chúng ta.
Chúng tàn sát trẻ mồ côi.
Chúng ngạo nghễ bảo rằng, “Chúa không thấy đâu;
Thượng Đế của Gia-cốp chẳng thèm biết đến.”
Nầy bọn ngu xuẩn, hãy chú ý,
Còn kẻ điên cuồng, bao giờ các ngươi mới hiểu?
Đấng tạo ra lỗ tai mà không nghe được sao?
Đấng tạo ra con mắt mà không thấy à?
Đấng sửa trị thế gian mà không trừng phạt các ngươi sao?
Ngài là Đấng dạy khôn cho loài người.
Chúa biết ý nghĩ con người.
Ngài biết tư tưởng họ chỉ như luồng gió thoảng..
Lạy Chúa, kẻ được Ngài sửa trị thật có phúc.
Ngài dạy họ luật lệ Ngài.
Ngài cho họ nghỉ ngơi khỏi cảnh khốn khổ
cho đến khi hố dành cho kẻ ác đã đào xong.
Chúa không lìa bỏ dân Ngài
hay bỏ rơi những kẻ thuộc về Ngài.
Sự công chính sẽ trở lại, mang theo sự công bình,
Những người ngay thẳng
sẽ có mặt ở đó và nhìn thấy điều ấy.
Ai sẽ giúp tôi chống kẻ ác?
Ai sẽ cùng tôi chống lại
kẻ gian tà?
Nếu Chúa không giúp đỡ
thì chắc trong phút chốc tôi đã mất mạng rồi.
Tôi thưa, “Tôi sắp ngã,” nhưng, Chúa ôi, tình yêu Ngài nâng đỡ
tôi.
Tôi rất lo lắng nhưng Ngài an ủi tôi và khiến tôi vui vẻ.
Những kẻ lãnh đạo bất lương không thể kết thân với Chúa được.
Chúng dùng luật lệ để gây khổ đau.
Chúng hợp lực chống lại người làm điều phải,
và kết án tử hình kẻ vô tội.
Nhưng Chúa là Đấng bảo vệ tôi,
Thượng Đế tôi là Khối Đá che chở tôi.
Chúa sẽ trừng phạt tội lỗi chúng
và sẽ diệt chúng vì tội ác chúng làm.
Chúa là Thượng Đế chúng tôi sẽ tiêu diệt chúng.
……………………
Chương chín mươi lăm.
Khuyên mọi người hãy ca ngợi
và vâng phục Thượng Đế
Hãy đến hát mừng Chúa.
Hãy lớn tiếng ca ngợi Khối Đá đã giải cứu chúng ta.
Hãy đến với Ngài bằng bài ca tạ ơn..
Hãy hát tôn vinh Ngài,
vì Chúa là Thượng Đế cao cả,
vua lớn trên tất cả các thần.
Mọi vực thẳm sâu nhất trên đất thuộc về Ngài,
các núi cao tột đỉnh cũng là của Ngài.
Biển cả là của Chúa vì Ngài tạo nên chúng,
Ngài tạo đất khô bằng chính tay mình.
Hãy đến cúi xuống thờ kính.
Chúng ta hãy quì gối trước mặt Chúa
là Đấng dựng nên chúng ta.
Ngài là Thượng Đế chúng ta,
chúng ta là dân mà Ngài chăm sóc,
là đàn chiên Ngài chăn giữ.
Hôm nay hãy nghe tiếng Ngài phán dạy:
“Đừng ương ngạnh như tổ tiên các ngươi tại Mê-ri-ba,
và như việc các ngươi làm tại Mát-xa. trong sa mạc,
Nơi mà tổ tiên các ngươi thách thức
và thử ta mặc dù họ đã thấy mọi điều ta làm.
Ta nổi giận với họ trong bốn mươi năm.
Ta bảo, ‘Họ không trung thành cùng ta,
chẳng hiểu đường lối ta.’
Ta nổi giận và thề quyết,
‘Họ sẽ không bao giờ được vào sự an nghỉ ta.’
………………..
Chương chín mươi sáu.
Ca ngợi vinh quang Chúa
Cả trái đất, hãy hát một bài ca mới. cho Chúa;
hãy hát tôn vinh Ngài.
Hãy hát xướng cho Chúa và ca ngợi Ngài;
mỗi ngày hãy thuật lại ơn giải cứu lớn lao của Ngài.
Hãy thuật cho các nước biết vinh quang Ngài,
và muôn dân biết các điều diệu kỳ Ngài làm,
vì Chúa rất cao cả; Ngài đáng được ca ngợi luôn luôn.
Ngài đáng được tôn trọng
hơn tất cả các thần.
Các thần khác hoàn toàn vô ích,
nhưng Chúa tạo lập các từng trời.
Chúa đầy vinh hiển và uy nghiêm;
Ngài có năng lực và vẻ đẹp trong đền thánh Ngài.
Hỡi các nước trên đất, hãy ca ngợi Chúa;
hãy ca ngợi sự vinh hiển và quyền năng Ngài.
Hãy ca ngợi xứng đáng với vinh hiển Ngài.
Hãy mang của lễ đi vào sân của đền thờ Ngài.
Hãy thờ phụng Chúa vì Ngài là thánh..
Mọi người trên đất, hãy run sợ trước mặt Ngài.
Hãy bảo cho các nước rằng,
“Chúa là vua.”
Trái đất đã được Chúa an bài,
sẽ không lay chuyển.
Ngài sẽ phân xử các dân tộc một cách công minh.
Các từng trời hãy reo vui,
đất hãy mừng rỡ;
biển và mọi vật trong biển
hãy la lớn lên.
Đồng ruộng và mọi vật trong đó hãy hớn hở,
Mọi cây cối trong rừng
hãy hát mừng
trước mặt Chúa vì Ngài đang ngự đến.
Ngài đến để phân xử thế gian;
Ngài sẽ phân xử thế gian
bằng sự công chính và các dân tộc bằng sự thành tín.
……………….
Chương chín mươi bảy.
Bài hát ca ngợi quyền năng Chúa
Chúa là Vua. Cả trái đất hãy reo vui;
các hải đảo hãy hớn hở.
Quanh Ngài có đám mây đen kịt.
Nước Ngài được xây trên nền chính trực và công bằng.
Trước mặt Ngài có đám lửa
thiêu đốt các thù nghịch Ngài bốn phía.
Lằn chớp Ngài chiếu sáng khắp thế gian;
trái đất thấy liền run sợ.
Núi non tan chảy như sáp trước mặt Chúa,
trước mặt Chúa của cả trái đất.
Các từng trời thuật lại lòng nhân từ Ngài
mọi người thấy vinh hiển Ngài.
Những kẻ thờ phụng tượng chạm sẽ bị xấu hổ;
họ khoe khoang về các thần
vô dụng của mình.
Tất cả các thần đều thờ phụng Chúa..
Giê-ru-sa-lem nghe liền hớn hở,
các thành Giu-đa vui mừng.
Chúng vui mừng vì sự phân xử của Ngài, thưa Chúa.
Lạy Chúa, Ngài là Đấng Chí Cao trên khắp đất;
Ngài được suy tôn trên tất cả các thần.
Những ai yêu mến Chúa ghét
điều ác.
Chúa chăm nom những kẻ trung tín theo Ngài
và giải thoát họ khỏi quyền lực của kẻ ác.
Ánh sáng chiếu trên những ai làm theo lẽ phải;
sự vui mừng đi theo những kẻ lương thiện.
Hỡi những ai làm theo lẽ phải,
hãy vui mừng trong Chúa.
Hãy ca ngợi danh Ngài.
……………………….
Chương chín mươi tám.
Chúa quyền năng và công minh
Bài ca ngợi
Hãy hát một bài ca mới cho Chúa vì Ngài đã làm những việc diệu
kỳ.
Tay phải mạnh mẽ và thánh. của Ngài giúp Ngài chiến thắng.
Chúa đã dùng quyền năng giải cứu;
cho muôn dân thấy sự đắc thắng của Ngài dành cho dân tộc
Ngài.
Ngài nhớ lại tình yêu và sự thành tín mà Ngài dành cho dân
Ít-ra-en.
Các nơi xa xăm của đất đã thấy quyền năng giải cứu của Thượng
Đế.
Cả thế gian hãy reo hò vui vẻ cho Chúa;
hãy trỗi tiếng ca và dạo nhạc.
Hãy dạo nhạc cho Chúa bằng đờn cầm,
dùng đờn cầm và âm nhạc.
Hãy thổi kèn cùng tù và;
hãy lớn tiếng hát mừng cho Chúa, là vua.
Biển và mọi vật trong biển hãy nổi tiếng ầm ầm lên,
thế gian và mọi người đang sống trên đất hãy xướng hát lên.
Các sông hãy vỗ tay;
các núi hãy cùng nhau hát mừng.
Tất cả hãy hát xướng trước mặt Chúa,
vì Ngài đến để phân xử thế gian.
Ngài sẽ phân xử thế gian bằng sự công bằng;
Ngài sẽ phân xử các dân trong công chính.
……………………
Chương chín mươi chín.
Chúa, vua công bằng và thánh khiết
Chúa là Vua.
Các dân hãy run sợ
trước mặt Ngài.
Ngài ngự giữa các con thú bằng vàng có cánh.
Đất hãy rung động.
Chúa của Giê-ru-sa-lem rất vĩ đại;
Ngài được suy tôn trên khắp
các dân.
Mọi người hãy ca ngợi danh Ngài;
danh Ngài rất lớn,
Ngài là Đấng thánh và đáng sợ.
Vua có quyền năng, Ngài chuộng công lý.
Ngài thiết lập sự công bằng;
Ngài thi hành điều công chính và phải lẽ giữa dân Gia-cốp.
Hãy tôn cao Chúa là Thượng Đế chúng ta,
hãy thờ phụng Ngài nơi bệ chân. Ngài.
Ngài là Đấng thánh.
Mô-se và A-rôn là thầy tế lễ
của Ngài,
Sa-mu-ên cũng kêu cầu cùng Ngài.
Họ kêu xin cùng Chúa,
Ngài liền đáp lời họ.
Ngài phán với họ trong trụ mây.
Họ giữ các qui tắc và luật lệ Ngài ban cho.
Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi,
Ngài đáp lời họ.
Ngài cho họ thấy Ngài là Đấng hay tha thứ,
nhưng sửa trị xứng đáng những hành vi sai lầm của họ.
Hãy tôn cao Chúa là Thượng Đế chúng ta,
hãy cúi xuống thờ phụng Ngài trên núi thánh Ngài,
vì Chúa, Thượng Đế chúng ta là Đấng thánh.
………………….
Chương một trăm.
Khuyên mọi người hãy ca ngợi Chúa
Bài ca cảm tạ.
Hỡi cả thế gian, hãy reo vang ca ngợi Chúa.
Hãy vui mừng phục vụ Chúa;
hát xướng mà đến trước mặt Chúa.
Phải biết rằng Chúa là Thượng Đế.
Ngài tạo nên chúng ta, chúng ta thuộc về Ngài.
Chúng ta là dân Ngài, là bầy chiên Ngài chăn giữ.
Hãy hát cảm tạ mà đi vào thành thánh Ngài
và bước vào sân đền Ngài bằng tiếng ca tôn vinh.
Hãy cảm tạ và ca ngợi danh Ngài.
CHÚA rất nhân từ.
Tình yêu Ngài còn đời đời,
sự thành tín Ngài kéo dài
vô tận.
…………………….
Chương một trăm lẻ một.
Lời cam kết sẽ trị nước công minh
Bài ca của Đa-vít.
Tôi sẽ hát ca về tình yêu và lòng công minh;
Chúa ôi, tôi sẽ ca ngợi Ngài.
Tôi sẽ cố gắng sống cuộc đời
toàn thiện.
Bao giờ thì Ngài sẽ đến cùng tôi.?
Tôi sẽ sống cuộc đời toàn thiện trong nhà tôi.
Tôi sẽ không nhìn điều gì xấu xa..
Những điều ấy sẽ không bám vào tôi.
Tôi không muốn liên can đến điều bất lương;
Tôi không muốn dính vào việc ác.
Tôi sẽ ngăn chận kẻ nói lén người láng giềng mình,
luôn cả những kẻ tự phụ và kiêu căng.
Tôi sẽ tìm người đáng tin trong xứ để sống chung với tôi.
Chỉ những ai có đời sống thanh liêm
mới được làm tôi tớ cho tôi thôi.
Kẻ bất lương không được ngụ trong nhà tôi;
bọn nói dối phải dang xa khỏi tôi.
Mỗi sáng tôi sẽ tiêu diệt mọi kẻ ác trong xứ.
Tôi sẽ trừ khử mọi kẻ gian tà khỏi thành của Chúa.
…………………….
Chương một trăm lẻ hai.
Lời kêu xin cứu giúp
Lời cầu nguyện của người đang khốn khổ khi người yếu đuối và bày
tỏ lòng buồn bực cùng Chúa.
Lạy Chúa, xin nghe lời cầu nguyện tôi;
nguyện lời kêu xin của tôi lên đến Ngài.
Xin đừng lánh mặt trong khi tôi gặp khốn khó.
Xin hãy lưu ý đến tôi.
Khi tôi kêu cầu, xin Ngài nghe tiếng tôi.
Đời tôi tan đi như mây khói,
xương cốt tôi cháy như than đỏ.
Lòng tôi như cỏ bị cắt và phơi khô.
Tôi quên cả ăn.
Vì quá sầu khổ,
tôi chỉ còn da bọc xương.
Tôi như chim cú trong sa mạc,
như chim cú sống trong các nơi đổ nát.
Tôi nằm thao thức.
Tôi giống như chim lẻ bạn đậu trên mái nhà.
Suốt ngày kẻ thù sỉ nhục tôi;
những kẻ chế giễu tôi nguyền rủa tôi..
Thức ăn của tôi là điều buồn bã,
nước mắt là thức uống.
Trong cơn giận,
Chúa đã túm bắt và ném tôi
thật xa.
Những ngày tháng của tôi sắp qua đi như bóng câu;
Tôi héo như cỏ.
Nhưng Chúa ôi, Ngài cai trị muôn đời,
uy danh Ngài còn đời nầy qua đời kia.
Ngài sẽ đến và thương xót Giê-ru-sa-lem,
đã đến lúc Ngài tỏ lòng nhân từ cùng thành ấy;
nay chính là thời điểm đó.
Các kẻ tôi tớ Chúa yêu thích
các tảng đá của thành ấy,
cả đến bụi bặm của nó nữa.
Các dân sẽ kính sợ danh Chúa,
các vua trên đất sẽ tôn trọng Ngài.
Chúa sẽ xây lại Giê-ru-sa-lem;
người ta sẽ nhìn thấy vinh hiển Ngài ở đó.
Ngài sẽ đáp lời cầu nguyện
của kẻ khốn cùng,
và không từ chối lời khẩn cầu
của họ.
Hãy viết những điều nầy để thế hệ mai sau ca ngợi Chúa.
Từ nơi thánh Ngài trên cao Chúa trông xuống;
từ thiên đàng Ngài nhìn xuống đất.
Ngài nghe tiếng than vãn của các tù nhân,
Ngài giải thoát những kẻ bị kêu án tử hình.
Để người ta sẽ rao truyền danh Chúa tại Giê-ru-sa-lem;
lời ca ngợi Ngài sẽ được nghe
ở đó.
Các dân sẽ cùng họp nhau,
các nước sẽ phục vụ Ngài.
Chúa khiến tôi chán sống;
Ngài đã cắt ngắn đời tôi.
Cho nên tôi thưa, “Lạy Chúa tôi ôi,
xin đừng cất mạng tôi nửa chừng.
Các năm Chúa còn mãi mãi.
Thuở xưa Chúa dựng nên trái đất,
bàn tay Ngài làm ra các bầu trời.
Trời đất sẽ tiêu tan,
nhưng Chúa sẽ tồn tại mãi.
Trời đất sẽ mòn cũ như áo quần,
Ngài sẽ thay và ném bỏ chúng đi như quần áo.
Nhưng Chúa không bao giờ thay đổi,
các năm tháng CHÚA không hề chấm dứt.
Con cái chúng tôi sẽ sống trong sự hiện diện của Ngài,
và cháu chắt chúng tôi sẽ được bình an trước mặt Ngài.
……………………………
Chương một trăm lẻ ba.
Ca ngợi Chúa của tình yêu
Bài ca của Đa-vít.
Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa;
toàn thân ta ơi, hãy ca tụng danh thánh Ngài.
Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa,
đừng quên sự nhân từ Ngài.
Ngài tha thứ mọi tội lỗi tôi,
chữa lành mọi bệnh tật tôi.
Ngài cứu tôi khỏi mồ mả,
Ngài lấy tình yêu và lòng thương xót làm mão triều đội cho
tôi.
Ngài ban cho tôi mọi điều tốt lành,
và làm tôi trẻ lại như chim phượng hoàng.
Chúa làm điều phải lẽ và công bằng cho những kẻ bị ức hiếp.
Ngài cho Mô-se biết đường lối Ngài
và cho Ít-ra-en biết việc làm của Ngài.
Chúa đầy lòng thương xót
và nhân từ.
Ngài chậm giận, giàu tình yêu.
Không phải lúc nào Ngài cũng luôn luôn bắt tội chúng ta,
Ngài không căm giận mãi.
Chúa không trừng phạt chúng tôi xứng với tội lỗi chúng tôi;
không báo trả chúng tôi đáng với sự gian ác chúng tôi.
Hễ các từng trời cao hơn đất bao nhiêu,
thì tình yêu Ngài dành cho kẻ kính sợ Ngài cũng lớn bấy
nhiêu.
Phương đông xa phương tây bao nhiêu,
thì Ngài cũng mang tội lỗi xa khỏi chúng tôi bấy nhiêu.
Chúa tỏ lòng nhân từ đối cùng những ai kính sợ Ngài,
như cha tỏ lòng nhân từ
cùng con cái mình.
Ngài biết chúng tôi được tạo nên như thế nào;
Ngài nhớ rằng chúng tôi chỉ là bụi đất.
Đời người giống như cỏ;
Nó trổ hoa trong đồng.
Gió thổi, hoa bay mất,
không còn để lại dấu tích.
Nhưng tình yêu Chúa dành cho những kẻ kính sợ Ngài còn đời
đời,
và lòng nhân từ Ngài kéo dài đến con cháu họ
là những người giữ giao ước Ngài
và vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Chúa đặt ngôi Ngài trên trời,
nước Ngài quản trị mọi loài.
Hỡi các thiên sứ Ngài, hãy ca ngợi Ngài.
Các ngươi là những chiến sĩ
bạo dạn,
làm theo lời phán và vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Hỡi các đoàn quân của Chúa. là các tôi tớ Chúa
làm theo ý muốn Chúa,
hãy ca ngợi Ngài;
Các ngươi là tôi tớ Chúa,
hãy làm theo ý muốn Ngài.
Mọi vật Chúa dựng nên hãy ca ngợi Ngài
bất cứ chỗ nào Ngài cai trị.
Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa.
………………………………..
Chương một trăm lẻ bốn.
Ca ngợi Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa
Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa.
Lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài rất cao cả.
Ngài mặc vinh hiển và oai nghi;
áo Ngài là ánh sáng.
Ngài giăng bầu trời ra như cái lều.
Xây phòng Ngài trên các đám mây..
Ngài dùng mây làm xe,
và lượn trên cánh gió.
Ngài dùng gió làm sứ giả mình,
ngọn lửa làm tôi tớ mình.
Chúa xây trái đất trên nền nó,
nó sẽ không bị di động.
Ngài phủ trái đất như chiếc áo;
nước dâng ngập các ngọn núi cao.
Nhưng khi Chúa ra lệnh,
nó liền hạ xuống.
Khi Ngài gầm thét, nó vội vàng trôi mất.
Nước chảy qua núi non; rồi xuống thung lũng,
đến nơi Ngài định cho nó.
Ngài đặt ranh giới biển, không cho nó vượt qua,
để nước không còn làm ngập lụt đất nữa.
Ngài khiến suối đổ vào các sông ngòi;
chúng chảy giữa các núi non.
Suối cấp thức uống cho muông thú;
các lừa hoang đến đó uống nước.
Chim muông làm tổ gần nước;
hót thánh thót giữa các cành cây.
Từ trời Ngài tưới các núi non.
Đất đầy dẫy những thành quả của công trình Ngài.
Ngài khiến cỏ mọc lên cho súc vật,
và rau cỏ cho con người.
Ngài khiến đất sinh ra thực phẩm.
Ngài cho chúng tôi rượu ngon khiến chúng tôi vui vẻ,
và dầu ô liu làm mặt chúng tôi sáng rỡ.
Ngài ban bánh mì để chúng tôi thêm sức.
Cây cối của Chúa được tưới đầy đủ;
đó là các cây hương nam
của Li-băng mà Ngài đã trồng.
Chim trời làm tổ trên đó;
con cò xây tổ trong các nhành thông.
Núi cao là lãnh thổ của dê rừng.
Các khe đá là nơi trú ẩn của con rái đồng..
Ngài dùng mặt trăng để định ngày tháng,
mặt trời luôn biết giờ lặn.
Chúa khiến nó tối lại, thì hóa ra đêm.
Bấy giờ các thú rừng đi ra.
Sư tử gầm thét khi kiếm mồi.
Chúng trông đợi Thượng Đế ban thức ăn.
Khi mặt trời mọc lên,
chúng trở về hang động để nghỉ ngơi.
Rồi con người đi ra làm việc, mãi đến chiều tà.
Lạy Chúa, Ngài đã làm thật nhiều điều;
nhờ sự khôn ngoan Ngài dựng nên tất cả mọi thứ.
Đất đầy dẫy các vật mà Ngài
tạo nên.
Hãy nhìn đại dương to rộng,
cùng vô số sinh vật lớn nhỏ sống trong đó.
Tàu bè đi lại trên biển,
cũng có Lê-vi-a-than. mà Ngài khiến nô đùa trong đó.
Tất cả đều trông đợi Ngài ban thức ăn theo giờ.
Khi Ngài ban thức ăn thì chúng nhận lấy.
Khi Ngài xoè tay ra, chúng được no nê thức ăn ngon.
Khi Ngài quay đi, chúng đâm ra hoảng sợ.
Ngài lấy hơi thở. chúng,
chúng dãy chết và trở về bụi đất.
Khi Ngài hà hơi sống trên chúng,
chúng được dựng nên,
Ngài làm đất trở nên mới.
Nguyện vinh hiển của Chúa còn mãi mãi.
Nguyện Chúa vui hưởng điều Ngài sáng tạo.
Ngài nhìn đất, đất liền rung chuyển,
Ngài sờ vào núi, núi liền bốc khói.
Tôi sẽ hát xướng cho Chúa suốt đời tôi;
Tôi còn sống bao lâu,
thì tôi sẽ ca ngợi Thượng Đế tôi bấy lâu.
Nguyện tư tưởng tôi đẹp lòng Ngài;
Tôi vui mừng trong Chúa.
Nguyện tội nhân bị diệt khỏi đất,
nguyện kẻ ác không còn tồn tại.
Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa.
Hãy ca ngợi Chúa.
……………………….
Chương một trăm lẻ năm.
Tình yêu Thượng Đế dành cho Ít-ra-en
Hãy cảm tạ Chúa và rao truyền danh Ngài.
Hãy thuật cho các quốc gia những việc Ngài làm.
Hãy hát xướng; hãy ca ngợi Ngài.
Hãy thuật lại các việc diệu kỳ của Ngài.
Hãy vui mừng trong sự kiêu hãnh;
những người tìm kiếm Chúa hãy vui mừng.
Hãy tìm kiếm nơi Chúa và sức mạnh của Ngài;
hãy luôn luôn đến cùng Ngài để xin cứu giúp.
Hãy nhớ lại các việc diệu kỳ Ngài đã làm;
những việc lạ lùng và các phán quyết của miệng Ngài.
Các ngươi là dòng dõi của tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham,
con cháu Gia-cốp, dân được
lựa chọn của Ngài.
Chúa là Thượng Đế chúng ta.
Ngài cai trị toàn thế giới.
Ngài sẽ mãi mãi tôn trọng giao ước Ngài,
và luôn luôn giữ lời hứa.
Ngài giữ giao ước đã lập với Áp-ra-ham
và lời hứa Ngài cùng Y-sác.
Ngài xác nhận giao ước cho Gia-cốp;
lập thành giao ước với Ít-ra-en cho đến đời đời.
Chúa phán, “Ta sẽ cho ngươi đất Ca-na-an,
xứ đó sẽ thuộc về các ngươi.”
Khi Ngài tuyên bố những điều ấy thì dân cư của Ngài hãy còn ít
oi.
Họ là kiều dân trong xứ.
Họ lưu lạc từ nước nầy sang nước khác,
từ vương quốc nầy đến vương quốc nọ.
Tuy nhiên Chúa không cho ai
ức hiếp họ;
Ngài cảnh cáo các vua không được làm hại họ.
Ngài bảo, “Chớ có đụng đến dân được chọn lựa của ta,
không được làm hại các nhà tiên tri ta.”
Thượng Đế đưa thời kỳ đói kém đến trong xứ,
Ngài tiêu hủy mọi nguồn thực phẩm.
Sau đó Ngài sai một người đi trước họ tức Giô-xép, bị bán làm
nô lệ.
Chúng xiềng chân người
và đeo gông vào cổ người.
Cho đến thời kỳ mà người đã tiên đoán xảy đến,
lời của Chúa chứng tỏ Giô-xép nói đúng.
Vua Ai-cập cho gọi Giô-xép đến và thả người ra;
nhà lãnh đạo quần chúng phóng thích người.
Vua đặt người cai quản cả cung vua;
Giô-xép quản trị mọi tài sản vua.
Người có quyền sai khiến các hoàng thân.
Người dạy khôn cho các bậc lão thành.
Sau đó cha người là Ít-ra-en đến Ai-cập;
Gia-cốp trú ngụ tại xứ Cham..
Chúa khiến dân Ngài sinh sôi
nẩy nở,
làm cho họ lớn mạnh hơn kẻ thù họ.
Ngài làm cho người Ai-cập ghét dân Ngài
để họ nghịch các tôi tớ Ngài.
Rồi Ngài sai tôi tớ Ngài là Mô-se,
và A-rôn là người Ngài đã chọn.
Họ làm các dấu lạ giữa người Ai-cập
và thực hiện các phép lạ trong xứ Cham.
Chúa sai bóng tối đến khiến xứ
tối mịt,
nhưng người Ai-cập chống nghịch lời Ngài.
Chúa liền biến nước ra máu khiến cá đều chết.
Rồi xứ bị ếch nhái tràn ngập,
thậm chí tràn vào phòng ngủ của các quan cai trị.
Chúa phán thì ruồi nhặng bay đến,
muỗi mòng tràn lan khắp xứ.
Ngài khiến mưa đá rơi xuống thay vì mưa
và sai sấm vang chớp loè khắp xứ.
Ngài tàn phá các dây nho và cây vả họ,
Ngài tiêu diệt cây cối khắp xứ.
Ngài phán thì cào cào liền bay tới ào ạt nhiều vô kể.
Chúng ăn sạch các cây xanh
trong xứ
cùng những gì do đất họ sinh ra.
Chúa cũng giết các con trai đầu lòng trong xứ,
tức con trưởng nam của mỗi gia đình.
Sau đó Ngài dẫn dân Ngài ra khỏi Ai-cập,
họ mang theo bạc và vàng,
không một ai trong vòng họ vấp té hay bị bỏ lại.
Dân Ai-cập quá mừng khi dân sự Ngài ra đi,
vì người Ai-cập rất sợ họ.
Chúa dùng đám mây làm bóng mát cho họ,
và soi sáng bóng đêm bằng ánh lửa.
Họ xin, Ngài liền sai chim cút đến
và cho họ ăn no nê bánh từ trời.
Chúa chẻ tảng đá, nước liền phun ra;
chảy như sông giữa sa mạc.
Chúa nhớ lại lời hứa thánh mà Ngài lập với Áp-ra-ham tôi tớ
Ngài.
Thượng Đế mang dân Ngài ra trong niềm hân hoan,
là dân chọn lựa của Ngài trong tiếng ca hát.
Ngài cấp cho họ đất đai của các dân tộc khác,
họ nhận lãnh công lao của kẻ khác.
Ngài làm như thế để họ giữ mệnh lệnh Ngài
và vâng theo lời dạy của Ngài.
Hãy ca ngợi Chúa!
………………………..
Chương một trăm lẻ sáu.
Dân Ít-ra-en không tin cậy Thượng Đế
Hãy ca ngợi Chúa!
Hãy cảm tạ Chúa vì lòng nhân từ của Ngài.
Tình yêu Ngài còn mãi mãi.
Không ai có thể thuật hết
các việc quyền năng Chúa
đã làm.
Không ai có thể hát hết lời ca ngợi Ngài.
Phúc cho ai làm điều công chính,
và kẻ luôn làm điều phải.
Chúa ôi, xin nhớ đến tôi khi
tỏ lòng nhân từ cùng dân tộc Ngài;
giúp tôi khi Ngài cứu họ.
Xin hãy cho tôi thấy sự sung túc của dân Ngài lựa chọn.
Xin cho tôi cùng chung vui với dân Ngài;
cùng nhập chung với dân Chúa mà ca ngợi Ngài.
Chúng tôi đã phạm tội giống như tổ tiên chúng tôi trước kia.
Chúng tôi làm quấy, chúng tôi gian ác.
Trong xứ Ai-cập, tổ tiên chúng tôi không hiểu được các phép lạ
Chúa.
Họ chẳng ghi nhớ lòng yêu thương bao la của Ngài,
trái lại họ chống nghịch Ngài tại Biển Sậy..
Nhưng vì danh Ngài, Chúa đã cứu họ,
để tỏ ra quyền năng lớn lao
của Ngài.
Ngài ra lệnh cho biển Sậy,
nó liền cạn khô.
Ngài dẫn họ qua biển sâu như thể bước đi trong sa mạc.
Ngài cứu họ khỏi những kẻ ghét họ,
giải thoát họ khỏi tay kẻ thù,
Ngài khiến nước phủ ngập lên
kẻ thù họ.
Không một ai thoát chết.
Bấy giờ họ tin điều Chúa phán,
và ca ngợi Ngài.
Nhưng rồi họ vội vàng quên điều Ngài làm;
không chờ đợi huấn lệnh Chúa.
Họ thèm muốn đang khi ở trong sa mạc,
thách thức Ngài tại đó.
Ngài cho họ điều họ ao ước,
nhưng sai dịch lệ đến với họ.
Dân chúng trong doanh trại đố kỵ với Mô-se và A-rôn,
thầy tế lễ thánh của Chúa.
Đất liền nứt ra nuốt Đa-than
và chôn sống bè lũ A-bi-ram.
Một ngọn lửa thiêu đốt những kẻ đi theo chúng,
hỏa thiêu bọn gian ác.
Dân chúng tạc một bò con vàng
tại núi Hô-rếp,
bái lạy một tượng đúc,
Họ đánh đổi Thượng Đế vinh hiển của mình
lấy hình tượng con bò ăn cỏ.
Họ quên Thượng Đế là Đấng
đã giải cứu và làm những phép lạ trong xứ Cham.,
Đấng đã làm nhiều phép lạ ở Ai-cập
và những việc diệu kỳ nơi biển Sậy.
Nên Thượng Đế nhất quyết tiêu diệt họ.
Nhưng Mô-se, người được Chúa chọn,
đứng trước mặt Ngài,
cản không để cơn thịnh nộ Ngài tiêu diệt họ.
Họ không chịu đi vào xứ Ca-na-an đẹp đẽ;
không tin lời hứa của Ngài.
Trong lều trại họ oán trách và không vâng lời Chúa.
Nên Ngài thề là họ sẽ chết trong sa mạc.
Ngài phán rằng con cháu họ sẽ bị các dân khác đánh bại,
và rằng họ sẽ bị tản lạc trong các nước khác.
Họ họp nhau bái lạy thần Ba-anh Phê-ô,
và ăn đồ đã được cúng cho các người chết..
Chúa nổi giận cùng họ,
nên nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo.
Nhưng Phi-nê-a đứng lên
và can thiệp..
Thượng Đế xem đó là việc làm phải lẽ,
sẽ được mãi mãi ghi nhớ.
Họ cũng chọc Ngài giận ở các suối nước Mê-ri-ba,
và vì họ mà Mô-se lãnh hậu quả không hay.
Dân chúng phản nghịch lại Thánh Linh của Chúa,
khiến Mô-se nổi giận.
Dân chúng cũng không tiêu diệt các dân khác như Chúa dặn bảo.
Nhưng lại sống chung chạ với chúng
và học đòi theo phong tục của các dân ấy.
Thần tượng của các dân khác
trở thành cạm bẫy cho họ.
Đến nỗi họ giết con trai con gái mình làm của lễ hi sinh cho
các ác quỉ.
Họ giết trẻ con vô tội,
tức chính con trai con gái mình
để làm sinh tế cho các thần tượng xứ Ca-na-an.
Cho nên đất trở nên dơ bẩn vì huyết chúng.
Họ tự làm cho mình dơ bẩn vì các hành động của họ;
Họ không trung thành bằng các hành động của họ.
Nên Ngài tức giận và chán ngán con dân Ngài.
Ngài trao họ cho các quốc gia khác,
cho phép kẻ thù cai trị họ.
Kẻ thù áp bức và thống trị họ.
Nhiều lần Chúa giải cứu dân Ngài,
nhưng họ tiếp tục phản nghịch Ngài.
Càng suy sụp trong tội lỗi.
Nhưng khi nghe tiếng kêu than,
Ngài thấy cảnh khốn đốn họ.
Ngài nhớ lại giao ước với họ
và an ủi họ do lòng yêu thương lớn lao của Ngài.
Ngài khiến các kẻ áp bức họ cũng thương hại họ.
Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi,
xin hãy cứu và mang chúng tôi trở về từ các nước khác.
Chúng tôi sẽ cảm tạ Ngài và vui mừng ca ngợi Ngài.
Hãy ca ngợi Chúa, là Thượng Đế của Ít-ra-en.
Đấng sẽ còn mãi mãi.
Mọi người hãy nói, “A-men!”
Hãy ca ngợi CHÚA!
…………..
Chương một trăm lẻ bảy.
Quyển
Thượng Đế giải cứu
khỏi nhiều gian nguy
Cảm tạ Chúa vì Ngài nhân từ.
Tình yêu Ngài còn đời đời.
Hỡi những ai được Chúa cứu
hãy ca ngợi như thế.
Ngài đã giải cứu họ khỏi tay kẻ thù
và đã tập họp họ lại từ các quốc gia,
từ Đông đến Tây, từ Bắc đến Nam..
Một số đã lưu lạc trong sa mạc,
không tìm được thành nào để sống.
Họ bị đói khát, chán nản cùng cực.
Trong cơn khốn đốn họ kêu la cùng Thượng Đế,
thì Ngài giải thoát họ khỏi mọi cảnh khốn khổ.
Ngài dẫn họ thẳng đến thành
có thể ở được.
Họ phải cảm tạ Chúa vì tình yêu
và những phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
Ngài cho họ đã khát và no đủ.
Một số ngồi trong cảnh ảm đạm tăm tối;
họ đang đau khổ trong xiềng xích.
Họ đã chống báng lời phán của Thượng Đế,
không thèm nghe lời khuyên của Đấng Chí Cao.
Do đó Ngài bắt họ lao khổ để hạ tính tự phụ của họ,
không ai giúp đỡ họ.
Trong cơn khốn đốn, họ kêu xin cùng Chúa,
Ngài liền giải cứu họ ra khỏi cảnh hiểm nghèo.
Ngài mang họ ra khỏi cảnh ảm đạm đen tối,
bẻ xiềng xích họ.
Họ phải cảm tạ Chúa vì lòng yêu thương
và các phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
Ngài phá các cổng đồng và cắt song sắt.
Một số ngu dại chống nghịch Thượng Đế,
mang lấy khốn khổ do hậu quả của việc ác mình làm.
Họ không thiết ăn uống đến nỗi suýt chết.
Trong cơn khốn đốn họ kêu la cùng Chúa,
Ngài liền giải cứu họ ra khỏi cảnh khốn khổ.
Ngài ra huấn lệnh và chữa lành,
cứu họ khỏi chết.
Họ phải cảm tạ Chúa vì tình yêu
và các phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
Họ phải dâng của lễ cảm tạ Ngài.
Hớn hở thuật lại những việc tay Chúa làm.
Có kẻ dùng tàu biển buôn bán trên các đại dương.
Họ thấy những điều Chúa có thể làm,
những phép lạ Ngài thực hiện trong biển sâu.
Chúa phán thì giông tố nổi lên,
thổi sóng cuồn cuộn.
Tàu bè bị chòng chành,
khi trồi lên cao chót vót,
lúc sụp xuống nơi thẳm sâu.
Trận bão dữ dội đến nỗi họ hết hi vọng.
Họ đi lảo đảo và ngã té như người say.
Họ lúng túng không biết làm sao.
Trong cơn khốn khổ họ kêu la cùng Chúa,
Ngài liền giải cứu họ khỏi nỗi hiểm nguy.
Ngài khiến bão lặng
và dẹp yên các lượn sóng.
Họ vui mừng vì bão yên.
Thượng Đế hướng dẫn họ đến bến mà họ muốn đi.
Họ phải cảm tạ Chúa về tình yêu
và các phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
Họ phải ca ngợi sự cao cả Ngài trong hội các dân;
họ phải ca ngợi Ngài trong buổi hội các bô lão.
Ngài biến sông ngòi ra sa mạc,
và suối nước ra đất khô.
Ngài biến đất màu mỡ ra đất mặn
vì dân cư sống ở đó gian ác.
Chúa biến sa mạc ra ao hồ,
và đất khô ra suối nước.
Ngài cho kẻ đói khổ lập nghiệp
tại đó để họ xây thành định cư.
Họ gieo giống trong đồng ruộng và vườn nho,
họ được trúng mùa.
Thượng Đế ban phước cho họ,
dân số họ gia tăng.
Gia súc cũng không sụt giảm.
Nhưng vì thiên tai, khốn khổ và buồn thảm,
dân số gia đình họ sút giảm và suy yếu.
Chúa cho thấy Ngài bất bình với các nhà lãnh đạo họ
cho nên Ngài bắt họ lưu lạc trong sa mạc không lối đi.
Nhưng Ngài mang kẻ nghèo khó ra khỏi cảnh khổ,
khiến gia đình họ gia tăng như bầy cừu.
Những người ngay thẳng vui vẻ khi nhìn thấy điều nầy,
nhưng kẻ ác làm thinh.
Kẻ nào khôn ngoan sẽ ghi nhớ việc đó
và suy gẫm về tình yêu của Chúa.
……………………
Chương một trăm lẻ tám.
Lời cầu xin được chiến thắng
Bài ca ngợi của Đa-vít.
Lạy Thượng Đế, lòng tôi ổn định.
Linh hồn tôi sẽ hát ca ngợi Chúa.
Hỡi đờn sắt và đờn cầm, hãy tỉnh giấc!
Tôi sẽ đánh thức bình minh dậy.
Chúa ôi, tôi sẽ ca ngợi Ngài giữa các dân;
tôn vinh Ngài trong các nước.
Tình yêu lớn lao của Ngài vượt trên các từng trời,
chân lý Ngài cao vút đến mây xanh.
Lạy Thượng Đế, nguyền Ngài được tôn cao hơn các từng trời.
Nguyện vinh quang Ngài lan tràn khắp đất.
Xin hãy trả lời chúng tôi qua quyền năng Ngài,
để dân mà Chúa yêu được giải cứu.
Từ đền thánh Ngài Thượng Đế phán,
“Sau khi thắng, ta sẽ chia Sê-chem
và đo thung lũng Xu-cốt.
Ghi-lê-át và Ma-na-xe đều thuộc về ta.
Ép-ra-im là mũ sắt ta.
Giu-đa cầm cây trượng vàng ta.
Mô-áp là chậu ta rửa ráy.
Ta ném giày dép ta ở Ê-đôm..
Ta reo hò đắc thắng trên Phi-li-tin.”
Ai sẽ đưa tôi đến thành có vách kiên cố?
Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm?
Chính là Thượng Đế, Đấng đã từ bỏ chúng tôi;
Ngài không còn ra trận với đạo quân chúng tôi nữa.
Xin hãy giúp chúng tôi đánh quân thù.
Sự giúp đỡ loài người thật vô dụng,
nhưng nhờ Thượng Đế giúp,
chúng tôi có thể chiến thắng quân thù.
Ngài sẽ đánh bại kẻ thù chúng tôi.
……………………….
Chương một trăm lẻ chín.
Lời cầu nguyện chống kẻ thù
Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít.
Thượng Đế ôi, tôi ca ngợi Ngài.
Xin đừng im lặng.
Bọn gian ác và dối trá phao vu về tôi;
chúng đặt điều nói dối về tôi.
Chúng đồn đãi tiếng xấu cho tôi và vô cớ tấn công tôi.
Dù rằng tôi yêu thương và cầu nguyện cho chúng,
chúng vẫn công kích tôi.
Chúng lấy xấu báo tốt, lấy dữ trả lành.
Tôi yêu thương chúng, nhưng chúng ghét tôi.
Chúng nói về tôi rằng,
“Hãy kiếm một tên gian ác chống lại nó,
hãy cho một kẻ tố cáo nó.
Khi nó bị phân xử, mong cho nó bị xử có tội,
nguyện lời cầu nguyện của nó phô bày tội lỗi nó ra.
Nguyện đời nó bị rút ngắn,
nguyện không ai thay thế địa vị lãnh đạo của nó.
Nguyện con cái nó thành mồ côi
và vợ nó thành goá bụa.
Nguyện con cái nó thất thểu đi ăn xin.
Nguyện chúng bị đuổi khỏi chốn hoang tàn mà chúng đang trú
ngụ.
Nguyện chủ nợ tịch thu hết các tài sản nó,
nguyện kẻ xa lạ ăn cắp hết những gì nó làm ra.
Nguyện không có ai thương nó
hay tội nghiệp cho đàn con côi cút của nó.
Nguyện dòng dõi nó chết không còn lưu lại kỷ niệm cho hậu thế.
Chúa ôi, xin nhớ lại tổ tiên chúng nó gian ác ra sao,
xin đừng bôi xóa tội lỗi của mẹ nó.
Chúa ôi, xin luôn nhớ tội lỗi chúng nó.
Xin Ngài khiến chúng nó bị lãng quên hoàn toàn.
Nó không hề nghĩ đến chuyện làm ơn.
Nó làm hại người nghèo,
kẻ túng thiếu và kẻ đau buồn cho đến khi họ gần chết.
Nó thích nguyền rủa người khác,
nguyện những lời trù ẻo đó lại rơi trên nó.
Nó không thích chúc lành cho kẻ khác,
nên nguyện nó không nhận được ơn lành nào.
Nó nguyền rủa người khác hằng ngày như mặc áo.
Nguyền rủa kẻ khác là bản tính của nó,
giống như uống nước hay dùng dầu thoa thân thể.
Nguyện những lời nguyền rủa phủ nó
như áo xống, quấn nó như cái nịt.”
Nguyện Chúa đối như vậy cho kẻ tố cáo tôi,
tức những kẻ bêu xấu tôi.
Nhưng, Chúa ôi, xin tỏ lòng nhân từ cùng tôi,
để kẻ khác biết rằng Ngài nhân hậu.
Vì tình yêu Chúa rất tốt lành, xin hãy cứu tôi.
Tôi nghèo khổ, khốn đốn và buồn thảm.
Tôi hấp hối như bóng chiều ngã dài;
bị xua đuổi như cào cào.
Đầu gối tôi run rẩy vì thiếu ăn,
tôi trở nên ốm yếu.
Kẻ thù tôi sỉ nhục tôi;
chúng nhìn tôi lắc đầu.
Lạy Chúa là Thượng Đế tôi, xin giúp đỡ tôi;
vì Ngài nhân ái, xin hãy cứu tôi.
Bấy giờ chúng sẽ biết rằng Ngài làm việc ấy;
và hiểu rõ rằng chính quyền năng Chúa đã giúp đỡ tôi.
Chúng nguyền rủa tôi, nhưng Ngài ban phước cho tôi.
Chúng công kích tôi, nhưng sẽ bị hổ nhục.
Bấy giờ, tôi là kẻ tôi tớ Chúa sẽ vui mừng.
Nguyện những kẻ tố cáo tôi
bị hổ nhục và bị nhuốc nhơ bao trùm như cái áo.
Tôi sẽ dùng môi miệng ca ngợi Chúa;
tôi sẽ ca tụng Ngài trước mặt mọi người.
Ngài bênh vực kẻ cô thế,
cứu họ khỏi tay kẻ tố cáo họ.
…………………
Chương một trăm mười.
Chúa chỉ định một vua
Bài ca của Đa-vít.
Chúa phán cùng chúa tôi.,
“Hãy ngồi bên phải ta
cho đến khi ta đặt mọi kẻ thù con dưới quyền quản trị của
con.”
Chúa sẽ nới rộng nước con quá ranh giới Giê-ru-sa-lem,
rồi con sẽ cai trị kẻ thù con.
Trong ngày chiến trận,
dân tộc con sẽ nhập với con.
Từ khi mới sinh con đã được mặc đức thánh thiện;
Con tươi mát như đứa trẻ..
Chúa đã hứa và sẽ không đổi ý rằng,
“Con là thầy tế lễ đời đời,
giống như Mên-chi-xê-đéc.”
Chúa sẽ ở bên con để giúp con.
Khi nổi giận, Ngài sẽ đè bẹp
các vua.
Ngài sẽ xử đoán các nước,
làm khắp nơi đầy xác chết;
Ngài sẽ đánh bại các lãnh tụ của mọi quốc gia trên thế giới.
Vua sẽ uống nước khe đang khi đi đường.
Rồi người ngước đầu lên và trở nên mạnh mẽ.
………………….
Chương một trăm mười một.
Cảm tạ sự nhân từ Chúa.
Ca ngợi Chúa!
Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Chúa trong buổi họp của các người ngay
thẳng.
Chúa đã làm những việc lớn lao;
hơn mọi điều chúng ta cầu xin.
Điều Chúa làm thật hiển vinh và rực rỡ,
lòng nhân ái Ngài còn đến
đời đời.
Ngài nổi danh qua các phép lạ Ngài làm.
Chúa đầy lòng nhân từ và thương xót.
Ngài ban thức ăn cho kẻ kính sợ Ngài.
Ngài mãi mãi ghi nhớ giao ước mình.
Ngài chứng tỏ quyền năng
khi ban đất của các nước khác cho dân Ngài.
Mọi điều Ngài làm đều tốt đẹp và công bằng;
Các huấn lệnh Ngài thật đáng tin cậy.
Các huấn lệnh ấy sẽ còn đời đời,
vì chúng đều được thực hiện trong sự thành tín và chân thật.
Chúa giải phóng dân Ngài.
Ngài lập giao ước đời đời.
Ngài là Đấng thánh và kỳ diệu.
Kính sợ Chúa là khởi điểm của khôn ngoan;
ai theo vâng theo huấn lệnh Ngài có tri thức lớn.
Ngài đáng được ca ngợi muôn đời.
………………………………
Chương một trăm mười hai.
Người thanh liêm sẽ được phước.
Hãy ca ngợi Chúa!
Phúc cho người kính sợ Chúa,
ao ước làm theo ý muốn Ngài.
Dòng dõi người sẽ cường thịnh trong xứ;
con cháu của người thanh liêm sẽ được phước.
Nhà người sẽ đầy dẫy của cải,
và sự nhân từ người sẽ còn mãi.
Ánh sáng chiếu trong tối cho những người thanh liêm,
và cho những ai có lòng phúc hậu,
nhân từ và ngay thẳng.
Con người nên tỏ ra nhân từ và rộng rãi,
phải chăng trong công việc.
Vì họ sẽ không bao giờ bị lay chuyển.
Người ta sẽ luôn ghi nhớ người ngay thẳng.
Họ không sợ tin dữ;
lòng họ ổn định vì họ tin cậy nơi Chúa.
Họ rất tin tưởng nên không sợ hãi gì.
Họ sẽ chứng kiến sự thất bại của kẻ thù.
Họ bố thí rộng rãi cho kẻ nghèo.
Lòng nhân từ của họ sẽ còn mãi.
Họ sẽ được tôn trọng trong chiến thắng.
Kẻ ác sẽ thấy điều ấy và đâm tức giận.
Chúng sẽ tức tối nghiến răng rồi biến mất.
Những ao ước của kẻ ác sẽ chẳng đi đến đâu.
……………..
Chương một
trăm mười ba.
Ca ngợi lòng nhân từ của Chúa
Hãy ca ngợi Chúa!
Hỡi các tôi tớ CHÚA, hãy ca ngợi danh Ngài.
Danh Chúa đáng được tán tụng
từ nay cho đến mãi mãi.
Danh Chúa đáng được ca ngợi
từ phía mặt trời mọc cho đến phía mặt trời lặn.
Chúa được suy tôn trong các quốc gia;
vinh quang Ngài lên đến tận các từng trời.
Không ai giống như Chúa là Thượng Đế chúng ta,
Đấng cai trị từ thiên đàng,
Đấng nhìn xuống các từng trời
và đất.
Chúa nâng người nghèo khổ lên khỏi đất đen,
đem kẻ cô thế ra khỏi bụi tro.
Ngài đặt họ ngồi với các kẻ quyền quí,
với các lãnh tụ của dân Ngài.
Ngài khiến đàn bà hiếm muộn sinh con cái,
được hớn hở làm mẹ.
Hãy ca ngợi Thượng Đế!
………………….
Chương một trăm mười bốn.
Thượng Đế mang dân Ít-ra-en
ra khỏi Ai-cập
Khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập,
nhà Gia-cốp rời bỏ một xứ ngoại quốc.
Giu-đa trở thành nơi thánh cho Chúa;
Ít-ra-en trở nên đất Ngài cai trị.
Hồng hải nhìn xong liền bỏ chạy;
sông Giô-đanh chảy lùi lại.
Núi nhún nhảy như dê đực,
và đồi nhảy nhót như cừu non.
Nầy biển, sao ngươi bỏ chạy?
Nầy sông Giô-đanh, sao ngươi chảy lùi lại?
Nầy núi, sao các ngươi nhảy
như dê đực?
Còn đồi, sao các ngươi nhảy nhót như cừu non vậy?
Hỡi trái đất, hãy run sợ trước mặt Chúa,
trước mặt Thượng Đế của Gia-cốp.
Ngài biến tảng đá ra ao nước,
biến khối đá cứng ra suối nước.
……………………….
Chương một trăm mười lăm.
Chỉ có một Thượng Đế chân thật mà thôi
Chúa ôi, vì tình yêu và sự thành tín Ngài,
vinh hiển thuộc về Chúa,
chứ không thuộc về chúng tôi!
Tại sao các dân hỏi,
“Thượng Đế của chúng đâu rồi?”
Thượng Đế chúng tôi trên thiên đàng.
Ngài làm điều Ngài thích.
Các tượng chạm của họ bằng bạc và bằng vàng,
do tay người làm ra.
Chúng có miệng mà chẳng nói được.
Có mắt chẳng thấy.
Có lỗ tai chẳng nghe.
Có mũi chẳng ngửi được.
Có tay không sờ được.
Có chân chẳng đi được.
Cổ họng chẳng phát ra được tiếng nào.
Người nào tạc tượng cũng sẽ y như thế,
còn ai tin tưởng vào các tượng ấy cũng vậy.
Hỡi dòng họ Ít-ra-en, hãy tin cậy Thượng Đế.
Ngài là Đấng cứu giúp và bảo vệ ngươi.
Hỡi gia đình A-rôn, hãy tin cậy Thượng Đế.
Ngài là Đấng giúp đỡ và bảo vệ các ngươi.
Những ai tôn kính Thượng Đế hãy tin cậy Ngài.
Vì Ngài là Đấng giúp đỡ và bảo vệ ngươi.
Chúa nhớ chúng ta và chúc phước cho chúng ta.
Ngài sẽ ban phước cho dòng họ Ít-ra-en;
Ngài sẽ ban phúc lành cho gia đình A-rôn.
Chúa sẽ ban ân phúc cho những ai tôn trọng Ngài,
từ người lớn nhất cho đến người nhỏ nhất.
Nguyện Chúa ban cho ngươi thành công,
nguyện Ngài giúp ngươi và con cái ngươi được may mắn.
Nguyện ngươi được phúc lành từ Chúa.,
Đấng tạo nên trời đất.
Trời thuộc về Chúa,
nhưng Ngài ban đất cho dân Ngài.
Người chết không thể ca ngợi Chúa;
kẻ nằm trong mồ mả im lặng.
Nhưng chúng tôi sẽ ca ngợi Chúa từ nay cho đến mãi mãi.
Hãy ca ngợi Chúa!
……………………
Chương một trăm mười sáu.
Tạ ơn Chúa vì thoát chết
Tôi yêu mến Chúa vì Ngài nghe tiếng kêu cứu
của tôi.
Ngài để ý đến tôi,
cho nên hễ tôi còn sống bao lâu thì tôi sẽ kêu xin Ngài bấy
lâu.
Dây tử thần trói buộc tôi,
và mối lo sợ về cái chết nắm giữ tôi.
Tôi lo lắng và buồn bã.
Tôi liền kêu đến danh Chúa.
Tôi thưa, “Chúa ôi, xin cứu tôi!”
Chúa rất nhân từ và làm điều phải;
Thượng Đế chúng tôi đầy lòng thương xót.
Chúa trông chừng kẻ yếu thế;
khi tôi bị cô thế thì Ngài liền cứu tôi.
Tôi tự nhủ, “Hãy yên tâm,
vì Chúa sẽ lo cho ngươi.”
Lạy Chúa, Ngài đã cứu tôi khỏi chết.
Lau nước mắt cho tôi;
Giữ tôi khỏi bị thua thiệt.
Cho nên tôi sẽ cùng đi với Chúa trong đất người sống.
Tôi tin nên tôi nói,
“Tôi hoàn toàn thất thế rồi.”
Trong cơn nguy biến tôi bảo, “Người nào cũng nói dối cả.”
Tôi sẽ lấy gì đền đáp những ơn lành Chúa ban cho tôi?
Tôi sẽ nâng chén cứu rỗi lên,
rồi cầu nguyện cùng Chúa.
Tôi sẽ thực hiện lời tôi hứa với Chúa trước mặt dân của Ngài.
Sự chết của những kẻ theo Chúa rất quí báu trước mặt Ngài.
Chúa ôi, tôi là tôi tớ Chúa;
tôi là đầy tớ, con trai của kẻ nô lệ Ngài.
Ngài đã giải thoát tôi khỏi xiềng xích.
Tôi sẽ dâng của lễ cảm tạ Ngài,
tôi sẽ cầu nguyện cùng Chúa.
Tôi sẽ thực hiện lời tôi hứa cùng Chúa trước mặt dân Ngài,
trong sân đền Ngài ở Giê-ru-sa-lem.
Hãy ca ngợi Chúa!
………………
Chương một trăm mười bảy.
Bài ca chúc tụng
Hỡi các nước, hãy ca ngợi Chúa.
Hỡi các dân hãy chúc tụng Ngài
vì Chúa rất yêu chúng ta, chân lý Ngài còn đời đời.
Hãy ca ngợi Chúa!
…………………..
Chương một trăm mười tám.
Tạ ơn vì đắc thắng
Cảm tạ Chúa vì Ngài nhân ái.
Tình yêu Ngài còn đến đời đời.
Toàn dân Ít-ra-en hãy nói,
“Tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
Nhà A-rôn. hãy nói rằng,
“Tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
Những người tôn kính Chúa hãy nói,
“Tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
Khi tôi bị khốn đốn, tôi kêu la cùng Chúa.
Ngài trả lời tôi và giải thoát tôi.
Tôi không sợ vì Chúa ở với tôi.
Không ai làm gì được tôi.
Chúa ở với tôi và giúp đỡ tôi,
tôi sẽ thấy kẻ thù tôi bị đánh bại.
Nên tin cậy Chúa hơn tin cậy
loài người.
Nên tin cậy Chúa hơn tin cậy các kẻ tước vị.
Các quốc gia vây tôi,
nhưng tôi nhờ quyền năng Chúa đánh bại chúng.
Chúng vây tôi tứ phía,
nhưng nhờ quyền năng Chúa, tôi đánh bại chúng.
Chúng vây tôi như bầy ong,
nhưng chúng tàn lụi nhanh như gai cháy.
Nhưng nhờ quyền năng Chúa, tôi đánh bại chúng.
Chúng đuổi theo tôi
cho đến khi tôi gần bại trận nhưng Chúa giúp tôi.
Chúa là nguồn năng lực và là
chủ đề của bài ca tôi.
Ngài đã cứu tôi.
Từ lều của những người thanh liêm
vang tiếng reo hò vui vẻ rằng,
“Chúa đã làm những việc quyền năng.”
Quyền năng Chúa đã mang đến chiến thắng;
nhờ quyền năng Ngài Chúa
đã làm nhiều việc lớn lao.
Tôi sẽ không chết nhưng được sống
để thuật lại những việc Chúa làm.
Chúa đã dạy tôi một bài học đắt giá
nhưng Ngài không để tôi phải chết.
Xin hãy mở cửa đền thờ cho tôi.
Thì tôi sẽ vào cảm tạ Chúa.
Đây là cửa của Chúa;
chỉ có những người nhân đức mới được vào đó.
Lạy Chúa, tôi cảm tạ Ngài vì Ngài đã trả lời tôi.
Ngài đã giải cứu tôi.
Tảng đá bị thợ xây nhà loại ra
lại trở thành viên đá góc nhà.
Đó là điều Chúa làm,
thật là kỳ diệu dưới mắt chúng ta.
Hôm nay là ngày Chúa đã dựng nên.
Chúng ta hãy hớn hở vui mừng trong ngày ấy!
Lạy Chúa, xin hãy cứu chúng tôi.
Lạy Chúa xin giúp chúng tôi thành công.
Nguyện Chúa ban phúc cho Đấng đến trong danh Ngài.
Từ đền thờ Chúa,
ta chúc phước cho tất cả các ngươi.
Chúa là Thượng Đế, Ngài tỏ lòng nhân từ đối với chúng ta.
Hãy cầm nhành chà là cùng nhau nhập tiệc vui.
Hãy đến gần bàn thờ.
Ngài là Thượng Đế tôi,
tôi sẽ cảm tạ Ngài;
Ngài là Thượng Đế tôi, tôi sẽ ca ngợi sự cao cả của Ngài.
Hãy cảm tạ Chúa vì Ngài nhân từ.
Tình yêu Ngài còn đến đời đời.
……………………
Chương một trăm mười chín.
Lời của Thượng Đế
A-lép.
Phúc
cho những ai sống cuộc đời trong sạch,
và
đi theo sự dạy dỗ của Chúa.
Phúc
cho những ai giữ theo các qui tắc Ngài,
hết
lòng vâng lời Chúa.
Họ
không làm điều sái bậy;
nhưng
đi theo các đường lối Ngài.
Lạy
Chúa, Ngài đã truyền các mệnh lệnh Ngài
để
người ta tuyệt đối tuân theo.
Tôi
ao ước được thêm trung tín
khi
tuân theo những điều Chúa dặn.
Để
tôi không cảm thấy xấu hổ
khi
nghiên cứu luật lệ Ngài.
Khi
tôi hiểu ra luật lệ Chúa là công bằng
thì
tôi hết lòng ca ngợi Ngài.
Tôi
sẽ luôn luôn vâng theo các qui luật Chúa,
xin
đừng lìa bỏ tôi.
Bết
Người
trẻ tuổi làm thế nào để sống cuộc đời trong sạch?
Bằng
cách vâng theo lời Chúa.
Tôi
hết lòng vâng lời Ngài.
Đừng
để tôi vi phạm các mệnh lệnh của Chúa.
Tôi
ghi tạc lời Chúa trong lòng tôi
để
tôi không phạm tội cùng Ngài.
Lạy
Chúa, Ngài đáng được ca ngợi.
Xin
hãy dạy tôi các luật lệ Ngài.
Môi
tôi sẽ thuật lại những luật lệ mà Chúa đã phán ra.
Tôi
vui thích sống theo qui tắc
của
Ngài
như
người ta ham thích của cải.
Tôi
học hỏi mệnh lệnh Chúa
và
đi theo đường lối Ngài.
Tôi
vui thích vâng theo luật lệ Chúa,
sẽ
không bao giờ quên lời Ngài.
Ghi-men
Xin
hãy tỏ lòng nhân từ đối với tôi,
kẻ
tôi tớ Ngài,
để
tôi được sống và vâng theo lời Chúa.
Xin
mở mắt tôi để tôi được nhìn thấy
những
điều lạ lùng trong lời dạy của Chúa.
Tôi
là khách lạ trên đất.
Xin
đừng giấu luật lệ Ngài khỏi tôi.
Tôi
mòn mỏi vì luôn ao ước luật lệ Ngài.
Chúa
quở trách những kẻ tự phụ;
những
kẻ lơ là đối với luật lệ Ngài sẽ bị nguyền rủa.
Xin
đừng để tôi bị sỉ nhục hay bị ghét bỏ
vì
tuân theo qui tắc của Ngài.
Dù
cho các quan quyền bàn luận nghịch tôi,
thì
tôi là kẻ tôi tớ Chúa vẫn suy tư về luật lệ Chúa.
Luật
lệ Chúa mang cho tôi niềm vui sướng;
Luật
lệ Chúa hướng dẫn tôi.
Đa-lét
Tôi
sắp sửa qua đời.
Xin
hãy cho tôi sống như Ngài đã hứa.
Tôi
thuật cho Ngài biết về đời tôi, Chúa liền trả lời tôi.
Xin
hãy dạy tôi các luật lệ Chúa.
Xin
hãy giúp tôi hiểu mệnh lệnh Ngài.
Tôi
sẽ suy tư về phép lạ Ngài.
Tôi
buồn bã và mệt mỏi.
Xin
hãy thêm sức cho tôi như Ngài đã hứa.
Xin
đừng để tôi trở nên bất lương;
xin
thương mà giúp tôi vâng theo lời dạy của Ngài.
Tôi
đã chọn con đường chân lý;
Tôi
đã dùng luật lệ Ngài làm hướng đi cho tôi.
Tôi
hết lòng tuân theo các qui tắc của Ngài.
Chúa
ôi, xin đừng để tôi bị xấu hổ.
Tôi
sẽ nhanh nhẹn vâng theo luật lệ Ngài,
vì
Ngài làm tôi vui mừng.
Hê
Lạy
Chúa, xin hãy dạy tôi luật lệ Ngài,
thì
tôi sẽ vâng giữ chúng đến cùng.
Xin
giúp tôi hiểu,
để
tôi giữ lời dạy của Chúa,
hết
lòng vâng theo.
Xin
dẫn tôi đi trong con đường
luật
lệ Chúa
vì
điều ấy khiến tôi vui mừng.
Xin
hãy khiến tôi vâng giữ qui luật Ngài,
chứ
đừng thèm khát của cải.
Xin
đừng để tôi chú tâm về những chuyện vô ích.
Hãy
cho tôi sống nhờ lời Ngài.
Xin
hãy giữ lời hứa cùng tôi, kẻ tôi tớ Chúa,
là
những người tôn kính Chúa.
Xin
hãy cất khỏi tôi sự hổ nhục mà tôi sợ,
vì
luật lệ Chúa rất tốt lành.
Tôi
mong muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Vì
Ngài nhân từ xin hãy cho tôi sống.
Vau
Chúa
ôi, xin tỏ tình yêu Ngài đối với tôi
và
cứu giúp tôi như Ngài đã hứa.
Tôi
đối đáp kẻ sỉ nhục tôi
vì
tôi tin cậy điều Chúa phán.
Xin
đừng ngăn cấm tôi nói ra
chân
lý của Chúa,
vì
tôi nhờ cậy vào luật lệ tốt lành của Ngài.
Tôi
sẽ vâng theo lời dạy dỗ của Ngài mãi mãi.
Để
tôi được sống trong tự do,
vì
tôi mong muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Tôi
sẽ trình bày các qui luật Chúa với các vua,
không
ngượng ngùng gì.
Tôi
vui thích vâng theo luật lệ Ngài;
là
điều tôi yêu mến.
Tôi
ca ngợi phép tắc Ngài, là điều tôi thích,
và
suy tư về các điều đòi hỏi của Chúa.
Gia-in
Xin
đừng quên lời hứa của Ngài cùng tôi,
kẻ
tôi tớ Chúa vì lời hứa đó mang cho tôi hi vọng.
Khi
tôi gặp khốn khổ, thì tôi được an ủi;
vì
lời hứa Ngài khiến tôi sống.
Những
kẻ tự phụ chế giễu tôi,
nhưng
tôi không ném bỏ lời dạy của Ngài.
Chúa
ôi, khi tôi nhớ lại luật lệ Chúa ban ra từ xưa,
thì
lòng tôi được an ủi.
Tôi
nổi giận với kẻ gian ác
là
kẻ không nghe theo lời dạy của Ngài.
Hễ
tôi ở đâu thì tôi sẽ ca ngợi
luật
lệ Ngài ở đó.
Chúa
ôi, ban đêm tôi nhớ đến Ngài,
tôi
sẽ vâng theo lời dạy của Ngài.
Đây
là điều tôi thường làm:
Tôi
vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Hết
Lạy
Chúa, Ngài là sản nghiệp của đời tôi;
Tôi
đã hứa vâng theo lời Ngài.
Tôi
hết lòng cầu nguyện cùng Ngài,
Xin
hãy tỏ lòng nhân từ cùng tôi như Ngài đã hứa.
Tôi
suy tư về đời sống tôi,
rồi
tôi nhất quyết theo các qui tắc của Ngài.
Tôi
mau mắn vâng theo luật lệ Ngài,
không
chậm trễ.
Kẻ
ác đã trói buộc tôi,
nhưng
tôi không quên sự dạy dỗ Chúa.
Giữa
đêm tôi thức dậy để cảm tạ Ngài
vì
luật lệ Chúa là đúng.
Tôi
là bạn thân của những người kính sợ Chúa
và
kẻ vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Chúa
ôi, tình yêu Chúa tràn đầy mặt đất.
Xin
hãy dạy tôi điều Chúa muốn.
Tết
Lạy
Chúa Ngài đã đối tốt
cùng
kẻ tôi tớ Ngài như Ngài đã hứa.
Xin
dạy tôi khôn ngoan
và
hiểu biết vì tôi tin cậy nơi các luật lệ Ngài.
Trước
kia tôi bị khốn khổ, và làm điều sai lầm,
nhưng
nay tôi vâng theo lời Ngài.
Chúa
là Đấng nhân đức, hay làm điều nhân đức.
Xin
hãy dạy tôi luật lệ Ngài.
Những
kẻ tự phụ đặt điều phao vu về tôi,
nhưng
tôi vẫn hết lòng vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Lòng
chúng nó chai đá,
nhưng
tôi yêu mến lời dạy của Ngài.
Cảnh
khổ là điều tốt cho tôi;
tôi
đã học các luật lệ Ngài.
Sự
dạy dỗ Chúa đối với tôi quí hơn hàng ngàn lượng vàng và bạc.
Giót
Ngài
đã chính tay tạo ra và uốn nắn tôi.
Xin
cho tôi tri thức để tôi học hỏi các luật lệ Ngài.
Nguyện
những ai kính sợ Chúa vui mừng khi thấy tôi
vì
tôi đặt hi vọng nơi lời hứa của Ngài.
Lạy
Chúa, tôi biết luật lệ Ngài là đúng
và
khi Ngài trừng phạt tôi cũng đúng nữa.
Xin
hãy lấy tình yêu Ngài an ủi tôi,
như
Ngài đã hứa cùng tôi, kẻ tôi tớ Ngài.
Xin
hãy thương xót tôi để tôi được sống.
Tôi
yêu mến sự dạy dỗ Ngài.
Xin
hãy khiến kẻ tự phụ xấu hổ
vì
chúng đặt điều phao vu cho tôi.
Nhưng
tôi sẽ suy tư về mệnh lệnh Chúa.
Nguyền
những ai kính sợ Chúa
trở
lại cùng tôi, tức những người biết luật lệ Chúa.
Nguyện
tôi hoàn toàn vâng theo qui tắc của Ngài
để
tôi không bị xấu hổ.
Cáp
Tôi
mòn mỏi vì trông đợi Ngài giải cứu tôi,
nhưng
tôi hi vọng nơi lời Ngài.
Mắt
tôi mòn mỏi vì tìm kiếm lời
hứa
Ngài.
Chừng
nào Ngài sẽ an ủi tôi?
Dù
cho tôi như bầu rượu bằng da bị ném vào đống rác,
tôi
sẽ không quên luật lệ Ngài.
Tôi
còn sống bao lâu nữa?
Chừng
nào thì Ngài sẽ phân xử bọn làm khổ tôi?
Những
kẻ tự phụ đã đào hố
cho
tôi sụp.
Chúng
chẳng hề quan tâm đến sự dạy dỗ Ngài.
Tất
cả các qui luật Ngài đều đáng tin.
Những
kẻ dối trá đang hại tôi.
Xin
hãy giúp tôi!
Chúng
suýt đưa tôi xuống mồ,
nhưng
tôi không từ bỏ mệnh lệnh Chúa.
Xin
cho tôi sống do tình yêu Ngài
để
tôi vâng theo các qui tắc Ngài.
La-mết
Lạy
Chúa, lời Ngài còn đời đời;
lời
Chúa tồn tại mãi trên thiên đàng.
Sự
thành tín Ngài kéo dài vô tận;
Ngài
tạo lập trái đất, nó vẫn đứng vững.
Mọi
vật còn đến ngày nay là do luật lệ Chúa,
vì
muôn vật phải phục vụ Ngài.
Nếu
tôi không yêu mến sự dạy dỗ Ngài,
tôi
hẳn đã chết trong sự khốn khổ tôi.
Tôi
sẽ không quên các mệnh lệnh Ngài,
vì
nhờ đó mà Chúa cho tôi sống.
Tôi
thuộc về Ngài, xin hãy cứu tôi.
Tôi
muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Kẻ
ác chực giết hại tôi,
nhưng
tôi sẽ suy tư về qui luật Chúa.
Tôi
nhìn thấy mọi vật mà Ngài dựng nên đều có giới hạn,
nhưng
luật lệ Chúa có những lợi ích vô hạn.
Mem
Tôi
yêu mến lời dạy Chúa biết bao!
Suốt
ngày tôi suy tư về lời dạy ấy.
Luật
lệ Chúa khiến tôi khôn ngoan hơn kẻ thù tôi,
vì
đời đời luật lệ ấy thuộc về tôi.
Tôi
khôn ngoan hơn các giáo sư tôi,
vì
tôi suy tư về các qui tắc Chúa.
Tôi
hiểu biết hơn các vị lãnh đạo lão thành,
vì
tôi tuân theo các mệnh lệnh Chúa.
Tôi
đã tránh mọi lối gian tà
để
tôi vâng theo lời Ngài.
Tôi
không đi lạc xa các luật lệ Chúa,
vì
Ngài dạy dỗ tôi.
Lời
hứa Ngài rất ngọt ngào
cho
tôi, ngọt hơn mật trong miệng tôi!
Những
mệnh lệnh Ngài giúp tôi hiểu biết,
nên
tôi ghét con đường dối trá.
Nun
Lời
Chúa là đèn soi bước chân tôi
và
là ánh sáng chiếu trên lối tôi đi.
Tôi
sẽ làm điều tôi hứa nguyện
và
vâng theo luật lệ công minh của Ngài.
Tôi
chịu khổ quá lâu.
Chúa
ôi, xin hãy cho tôi sống theo lời Ngài đã hứa.
Chúa
ôi, xin hãy chấp nhận lời ca ngợi tôi
và
dạy tôi luật lệ Ngài.
Mạng
sống tôi hằng gặp nguy biến,
nhưng
tôi không quên lời dạy của Chúa.
Kẻ
ác giăng bẫy bắt tôi,
nhưng
tôi không đi lạc xa khỏi mệnh lệnh Ngài.
Tôi
sẽ vâng theo các qui luật Ngài mãi mãi,
vì
chúng làm tôi vui mừng.
Tôi
sẽ mãi mãi làm theo điều Ngài đòi hỏi, cho đến cùng.
Xa-méc
Tôi
ghét kẻ bất trung,
nhưng
yêu lời dạy của Chúa.
Ngài
là nơi tôi ẩn náu và là cái khiên che chở tôi;
tôi
đặt hi vọng vào lời Ngài.
Hỡi
kẻ làm ác, hãy tránh xa khỏi ta
để
ta giữ các luật lệ của Thượng Đế ta.
Xin
Chúa hãy hỗ trợ tôi như Ngài đã hứa thì tôi sẽ sống.
Tôi
tin cậy Ngài, xin đừng làm tôi thất vọng.
Xin
giúp tôi thì tôi sẽ được cứu.
Tôi
sẽ luôn luôn tôn trọng luật lệ Ngài.
Chúa
gạt bỏ những kẻ không tôn trọng luật lệ Ngài.
Vì
chúng bị lầm lạc bởi những sự dối trá của chúng.
Chúa
ném bọn gian ác như người ta ném rác.
Cho
nên tôi yêu mến các qui tắc Ngài.
Tôi
run sợ trước mặt Chúa;
tôi
tôn trọng luật lệ Chúa.
A-in
Tôi
đã làm điều phải và công chính.
Xin
đừng để tôi rơi vào tay kẻ hãm hại tôi.
Xin
hứa giúp tôi, kẻ tôi tớ Chúa.
Xin
đừng để kẻ tự phụ làm hại tôi.
Mắt
tôi mờ vì trông đợi sự cứu rỗi
và
lời hứa tốt lành của Chúa.
Xin
hãy cho tôi, kẻ tôi tớ Chúa,
thấy
tình yêu Ngài và dạy tôi điều Ngài muốn.
Tôi
là kẻ tôi tớ Chúa.
Xin
cho tôi sự khôn ngoan để tôi hiểu qui luật Ngài.
Chúa
ôi, đến lúc Ngài phải ra tay,
vì
loài người đã bất tuân sự dạy dỗ Chúa.
Tôi
yêu mến luật lệ Chúa
hơn
yêu vàng ròng.
Tôi
tôn trọng các mệnh lệnh Ngài,
nên
tôi ghét con đường giả dối.
Bê
Các
qui tắc Chúa thật diệu kỳ,
nên
tôi tuân theo.
Việc
học hỏi lời Chúa mang lại sự khôn ngoan,
và
ban hiểu biết cho người khờ dại.
Tôi
rất thèm khát, muốn học hỏi luật lệ Ngài.
Xin
hãy nhìn tôi và thương xót tôi
như
Ngài thương xót kẻ yêu mến Ngài.
Xin
hãy chỉ dẫn các bước của tôi như Ngài đã hứa;
đừng
để tội lỗi kiểm soát tôi.
Xin
hãy cứu tôi khỏi kẻ ác hại
để
tôi vâng theo mệnh lệnh Ngài.
Xin
hãy tỏ lòng nhân từ cùng tôi,
kẻ
tôi tớ Ngài.
Xin
dạy tôi các luật lệ của Ngài.
Tôi
rơi lệ
vì
người ta không vâng theo lời dạy của Ngài.
Xa-đê
Lạy
Chúa, Ngài làm điều phải,
luật
lệ Ngài thật công minh.
Những
qui tắc Chúa truyền đều đúng và hoàn toàn đáng tin cậy.
Tôi
bực dọc và mòn mỏi,
vì
kẻ thù tôi đã quên lời Ngài.
Những
lời hứa Chúa đã được trắc nghiệm,
cho
nên kẻ tôi tớ Chúa yêu mến lời ấy.
Tôi
vô danh và bị ghét bỏ,
nhưng
tôi không quên mệnh lệnh Ngài.
Lòng
nhân từ Ngài còn mãi mãi,
những
lời giáo huấn của Ngài là chân thật.
Tôi
gặp khó khăn và khốn khổ,
nhưng
tôi yêu mến luật lệ Ngài.
Các
qui tắc Chúa đều mãi mãi tốt lành.
Xin
giúp tôi hiểu để tôi được sống.
Cốp
Chúa
ôi, tôi hết lòng kêu xin Ngài.
Xin
trả lời tôi thì tôi sẽ tuân giữ các điều đòi hỏi của Ngài.
Tôi
kêu cầu Ngài.
Xin
giải cứu tôi để tôi vâng theo các qui tắc Ngài.
Buổi
sáng tôi dậy sớm và kêu xin.
Tôi
đặt hi vọng nơi lời Ngài.
Tôi
thao thức suốt đêm
để
suy tư về lời hứa Ngài.
Vì
tình yêu Ngài xin hãy lắng nghe tôi;
Chúa
ôi, xin cho tôi sống bằng luật lệ Ngài.
Những
kẻ làm điều ác đang theo sát gần tôi,
nhưng
chúng rất xa lời giáo huấn Ngài.
Nhưng
Chúa ôi, Ngài cũng ở gần,
mọi
luật lệ Ngài đều chân thật.
Xưa
kia tôi học biết qui tắc Ngài
là
những qui tắc Ngài lập nên còn đời đời.
Rết
Xin
hãy nhìn sự khốn khổ tôi và giải cứu tôi,
vì
tôi không quên lời dạy của Chúa.
Xin
hãy bào chữa cho tôi
và
cứu tôi.
Hãy
cho tôi sống theo lời hứa Ngài.
Kẻ
ác sẽ không được cứu đâu,
vì
chúng nó không tuân theo các luật lệ Ngài.
Lạy
Chúa nhân từ;
xin
cho tôi sống bằng luật lệ Ngài.
Vô
số kẻ thù đuổi theo tôi,
nhưng
tôi không ném bỏ luật lệ Chúa.
Tôi
nhìn thấy kẻ phản bội, tôi ghét chúng,
vì
chúng không vâng lời Ngài dạy.
Hãy
xem tôi yêu mến mệnh lệnh Ngài biết bao nhiêu.
Lạy
Chúa, xin hãy cho tôi sống bằng tình yêu Ngài.
Từ
đầu, lời Chúa vốn chân thật,
các
luật lệ Ngài đều công chính cho đến đời đời.
Sin
Các
quan quyền tấn công tôi vô cớ,
nhưng
lòng tôi luôn kính sợ luật lệ Ngài.
Tôi
vui mừng về lời hứa Ngài
như
vừa tìm được của báu.
Tôi
gớm ghét và khinh bỉ chuyện dối trá,
nhưng
tôi yêu mến lời dạy Ngài.
Tôi
ca ngợi Ngài bảy lần mỗi ngày
vì
luật lệ Ngài rất công chính.
Những
ai yêu mến lời dạy của Ngài
sẽ
tìm được sự bình an thật,
không
gì thắng nổi họ được.
Chúa
ôi, tôi trông đợi Ngài giải cứu tôi,
Tôi
sẽ vâng theo luật lệ Ngài.
Tôi
tuân theo qui tắc Ngài,
hết
lòng yêu mến các qui tắc ấy.
Tôi
vâng theo mệnh lệnh
và
qui tắc Ngài,
vì
Chúa biết mọi điều tôi làm.
Tau
Chúa ôi, xin nghe tiếng kêu cứu tôi.
Nguyện lời Ngài giúp cho tôi hiểu.
Xin lắng nghe lời cầu xin tôi;
và cứu tôi như Ngài đã hứa.
Xin cho tôi ca ngợi Ngài,
vì Ngài đã dạy tôi các điều đòi hỏi của Ngài.
Xin cho tôi hát chúc tụng lời hứa Ngài,
vì các luật lệ Ngài đều công chính.
Xin giơ tay giúp đỡ tôi,
vì tôi đã chọn luật lệ Ngài.
Lạy Chúa, tôi mong Ngài cứu tôi.
Tôi yêu mến lời giáo huấn của Ngài.
Xin cho tôi sống để tôi ca ngợi Ngài.
Xin để các luật lệ Ngài nâng đỡ tôi.
Tôi đã đi lang thang như chiên lạc.
Xin hãy tìm kiếm tôi tớ Ngài,
vì tôi không quên các luật lệ Chúa.
…………………..
Chương một trăm hai mươi.
Lời cầu nguyện của kẻ xa nhà
Bài ca khi đang đi lên đền thờ.
Khi tôi gặp khốn đốn,
tôi kêu xin Chúa,
Ngài đáp lời tôi.
Chúa ôi, xin cứu tôi khỏi kẻ nói dối
cùng những kẻ lập mưu ác.
Ê bọn lập mưu ác,
Thượng Đế sẽ đối xử với các ngươi ra sao?
Ngài sẽ trừng phạt các ngươi như thế nào?
Ngài sẽ lấy tên nhọn của chiến sĩ
và than lửa đỏ mà phạt các ngươi.
Thật kinh khủng khi tôi sống
trong đất Mê-siếc,
ở giữa lều của dân Kê-đa.
Tôi đã sống quá lâu giữa bọn ghét hòa bình.
Khi tôi nói hoà bình, chúng lại thích chiến tranh.
………..
No comments:
Post a Comment