Saturday, January 27, 2024

Thi Thiên (121-150)

 

Chương một trăm hai mươi mốt.

Chúa gìn giữ dân Ngài

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Tôi ngước trông lên đồi,
   ơn cứu giúp tôi đến từ đâu?
  Ơn cứu giúp tôi đến từ Chúa,
   Đấng tạo nên trời đất.
  Ngài sẽ không để ngươi bị thất bại.
   Đấng canh giữ ngươi không hề chợp mắt.
  Đấng canh giữ Ít-ra-en không hề mệt mỏi,
   Ngài không cần ngủ nghỉ.
  Chúa gìn giữ ngươi.
   Ngài là bóng mát che ngươi khỏi nắng nóng.
  Mặt trời không cháy sém ngươi ban ngày,
   mặt trăng cũng không hại ngươi ban đêm.
  Chúa sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi nguy biến;
   Ngài sẽ bảo vệ mạng sống ngươi.
  Chúa sẽ gìn giữ khi ngươi đi vào, lúc ngươi bước ra.,
   từ nay cho đến mãi mãi.

………………

 

Chương một trăm hai mươi hai.

Dân cư hạnh phúc ở Giê-ru-sa-lem

Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Đa-vít sáng tác.

  Tôi hân hoan khi người ta bảo tôi,
   “Chúng ta hãy đi đến đền thờ Chúa.”
  Hỡi Giê-ru-sa-lem,
   chúng ta đang đứng tại cổng ngươi.
  Giê-ru-sa-lem mới là thành
   được xây bằng một khối.
  Các chi tộc sẽ đi lên đó,
   tức những chi tộc thuộc về Chúa.
  Thể lệ buộc Ít-ra-en phải ca ngợi Chúa tại Giê-ru-sa-lem.
  Đó là nơi dòng dõi Đa-vít đặt ngôi
   để phân xử dân chúng.
  Hãy cầu hoà bình cho Giê-ru-sa-lem;
   “Nguyện những ai yêu mến thành ấy được an ninh.
  Nguyện sự hoà bình ngự bên trong các vách ngươi,
   và sự an ninh ở bên trong các tháp kiên cố ngươi.”
  Vì cớ các thân nhân và bạn hữu ta,
   ta nói, “Nguyện Giê-ru-sa-lem hưởng thái bình.”
  Vì cớ đền thờ của Chúa là Thượng Đế chúng ta,
   ta cầu cho ngươi được phúc lành.

…………………………

 

Chương một trăm hai mươi ba.

Lời cầu xin được thương xót

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Lạy Chúa, tôi hướng lòng về Ngài,
   Đấng ngự trên thiên đàng.
  Kẻ tôi mọi trông chờ nơi chủ mình,
   đứa tớ gái trông chờ bà chủ mình.
  Cũng vậy, chúng tôi trông chờ
   nơi Chúa là Thượng Đế chúng tôi.
   Chúng tôi trông chờ Ngài tỏ lòng thương xót.
  Chúa ôi, xin thương xót chúng tôi.
   Xin thương xót chúng tôi vì chúng tôi đã bị sỉ nhục.
  Chúng tôi mang sự sỉ nhục của những kẻ tự phụ,
   gánh sự hung hăng của kẻ tự phụ.

………………..

Chương một trăm hai mươi bốn.

Chúa cứu giúp dân Ngài

Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Đa-vít sáng tác.

  Ít-ra-en nên nói,
   Nếu Chúa không đứng về phía chúng ta thì sao?
  Nếu Chúa không đứng về phía chúng ta
   khi chúng ta bị tấn công thì sao?
  Chắc hẳn kẻ thù đã ăn tươi nuốt sống chúng ta trong cơn nóng giận.
  Chúng có thể như nước lụt ào đến dìm chết chúng ta;
   hay tràn ngập chúng ta như sông lớn.
  Chúng có thể cuốn trôi chúng ta đi như thác lũ.
  Ca ngợi Chúa, Ngài không để chúng ăn nuốt chúng ta.
  Chúng ta thoát như chim thoát khỏi bẫy sập.
   Bẫy bị hỏng, nên chúng ta thoát.
  Sự tiếp trợ chúng ta đến từ Chúa,
   Đấng tạo nên trời đất.

…………………

 

Chương một trăm hai mươi lăm.

Thượng Đế gìn giữ người tin cậy Ngài

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Những ai tin cậy Chúa giống như núi Xi-ôn vững chãi,
  Các rặng núi bao bọc Giê-ru-sa-lem ra sao,
   Chúa cũng bao bọc dân Ngài như vậy,
   từ nay cho đến mãi mãi.
  Kẻ ác không thể cai trị người thanh liêm.
  Nếu không người thanh liêm có thể dùng quyền lực đó
   để làm ác.
  Lạy Chúa, xin hãy đối nhân từ cùng kẻ nhân từ,
   tức những người có lòng ngay thẳng.
  Nhưng khi Ngài diệt kẻ ác,
   thì Ngài cũng sẽ diệt luôn những kẻ từ bỏ Ngài.
  Nguyện sự hoà bình ngự trên Ít-ra-en.

…………………

 

Chương một trăm hai mươi sáu.

Lời cầu xin Chúa mang dân Ngài
trở về

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Lúc Chúa mang các tù nhân trở về Giê-ru-sa-lem.,
   thì chúng tôi tưởng như đang nằm mơ.
  Chúng tôi vui cười sung sướng,
   hát lên bài ca hân hoan.
  Các nước khác thấy thế liền nói,
   “Chúa đã làm các việc lớn cho họ.”
  Chúa đã làm những việc lớn lao cho chúng ta,
   chúng ta lấy làm mừng rỡ.
  Chúa ôi, xin mang các tù nhân chúng tôi về,
   như Ngài đã mang suối nước vào sa mạc.
  Kẻ nào vừa trồng vừa khóc,
   sẽ hát mừng vào mùa gặt.
  Kẻ vừa gieo giống. vừa rơi nước mắt,
   sẽ trở về vui hát, mang bó lúa mình.

………………………

 

Chương một trăm hai mươi bảy.

Mọi điều tốt lành đều do Thượng Đế
ban cho

Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Sô-lô-môn sáng tác.

  Nếu Chúa không cất nhà,
   thì thợ xây cũng trở thành vô dụng.
  Nếu Chúa không canh giữ thành,
   thì các lính canh chẳng làm được gì.
  Uổng công cho các ngươi là kẻ thức dậy sớm,
   đi ngủ trễ, lo làm ăn.
  Chúa ban giấc ngủ ngon cho kẻ Ngài yêu.
  Con cái là món quà. Chúa ban;
   trẻ thơ là phần thưởng của lòng mẹ.
  Con cái sinh ra trong khi cha còn trẻ
   như mũi tên trong tay chiến sĩ.
  Phước cho người nào có đầy tên trong giỏ.
   Họ sẽ có ưu thế khi chống nhau với kẻ thù nơi cửa thành.

……………

 

Chương một trăm hai mươi tám.

Gia đình hạnh phúc

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Phúc cho người nào kính sợ Thượng Đế và vâng lời Ngài.
  Ngươi sẽ vui hưởng điều tay mình làm ra,
   ngươi sẽ được phước về mọi phương diện.
  Vợ ngươi sẽ sinh nhiều con cho ngươi,
   như dây nho sai trái.
  Con cái ngươi cũng mang niềm vui cho ngươi,
   như nhành ô liu sai trái.
  Người kính sợ Chúa được phước như vậy.
  Nguyện Chúa ban phước cho ngươi từ núi Xi-ôn;
   nguyện ngươi vui hưởng những
   điều tốt lành từ Giê-ru-sa-lem trọn đời ngươi.
  Nguyện ngươi nhìn thấy cháu chít mình.
  Nguyện hoà bình ngự giữa Ít-ra-en.

…………………

 

Chương một trăm hai mươi chín.

Cầu nguyện xin Chúa phạt kẻ thù

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Ít-ra-en hãy nói,
   Suốt đời tôi bị kẻ thù tấn công.
  Tuy chúng đã ngược đãi tôi suốt đời tôi
   nhưng chưa đánh thắng tôi.
  Như nông gia cày ruộng, chúng cày bừa trên lưng tôi,
   để lại những luống thương tích dài.
  Nhưng Chúa đã làm điều phải;
   Ngài đã giải thoát tôi khỏi tay kẻ ác.
  Nguyện những người ghét Giê-ru-sa-lem
   phải lùi lại vì xấu hổ.
  Nguyện họ giống như cỏ mọc trên mái nhà,
   bị chết héo trước khi đâm rễ.
  Không đầy một nắm tay
   hay bó cho được một ôm.
  Người qua kẻ lại cũng không nói,
   “Cầu Chúa ban phước cho ngươi.
   Chúng tôi nhân danh quyền năng Chúa ban phúc lành cho ngươi.

……………….

 

Chương một trăm ba mươi.

Cầu xin ơn thương xót

Bài ca khi đang đi lên đền thờ.

  Chúa ôi, tôi đang gặp nguy khốn,
   nên kêu cứu cùng Ngài.
  Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi;
   lắng nghe lời cầu cứu tôi.
  Chúa ôi, nếu Ngài trừng phạt con người theo tội lỗi họ,
   thì Chúa ôi, còn ai sống sót?
  Nhưng Chúa tha tội lỗi chúng tôi,
   vì thế Ngài được tôn kính.
  Tôi trông đợi Chúa giúp tôi,
   tôi tin cậy lời Ngài.
  Tôi mong đợi Ngài cứu giúp tôi
   hơn người lính canh trông chờ sáng.
  Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đặt hi vọng của các ngươi trong Chúa
   vì Ngài là Đấng yêu thương và đầy lòng cứu rỗi.
  Ngài sẽ cứu Ít-ra-en khỏi mọi tội lỗi của họ.

……………….

 

Chương một trăm ba mươi mốt.

Hãy tin cậy Thượng Đế như trẻ thơ

Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Đa-vít sáng tác.

  Lạy Chúa, lòng tôi không tự phụ;
   tôi không xem thường kẻ khác.
  Tôi không nghĩ đến những việc lớn lao,
   hay những điều không thể làm được.
  Nhưng tôi nằm yên lặng,
   như hài nhi nằm trong tay mẹ.
  Tôi an bình như hài nhi nằm với mẹ.
  Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đặt hi vọng mình trong Chúa từ nay cho đến đời đời.

…………….

Chương một trăm ba mươi hai.

Ca ngợi đền thờ Chúa

Bài ca khi đang đi lên thờ phụng.

  Lạy Chúa, xin nhớ lại Đa-vít
   và những cảnh khốn khổ người chịu.
  Người đã thề cùng Chúa,
   hứa nguyện cùng Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.
  Người hứa, “Tôi sẽ không đi vào nhà tôi,
   hay nằm xuống giường,
  chợp mắt, hay ngủ
  cho đến khi tôi tìm được một nơi cho Chúa ngự.
  Tôi muốn tìm một nơi ở cho Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.”
  Chúng tôi đã nghe về Rương Giao Ước Chúa tại Bết-lê-hem.
   Chúng tôi tìm được rương ấy ở Ki-ri-át Giê-a-rim.
  Chúng ta hãy đi đến nhà Chúa.
   Chúng ta hãy thờ phụng nơi bệ chân Ngài.
  Lạy Chúa, xin đứng dậy đi đến nơi nghỉ ngơi của Ngài;
   bước vào cùng với Rương Giao Ước để tỏ ra quyền năng Ngài.
  Nguyện các thầy tế lễ của Ngài luôn làm điều phải.
   Nguyện dân Ngài ca hát mừng rỡ.
  Vì cớ Đa-vít kẻ tôi tớ Ngài,
   xin đừng từ bỏ vua mà Ngài đã bổ nhiệm.
  Chúa đã hứa cùng Đa-vít,
   lời hứa chắc chắn không thay đổi.
  Ngài hứa rằng,
   “Ta sẽ đặt một người trong dòng dõi ngươi làm vua kế vị ngươi.
  Nếu con cái ngươi giữ giao ước và các qui tắc mà ta dạy chúng,
   thì con cháu chúng nó sẽ tiếp tục ngồi trên ngôi ngươi mãi mãi.”
  Chúa đã chọn Giê-ru-sa-lem;
   Ngài chọn thành ấy làm nơi ở Ngài.
  Ngài phán,
   “Đây là nơi ta nghỉ ngơi.
   Đây là nơi ta muốn ngự.
  Ta sẽ ban phước nhiều cho thành nầy;
   cho những kẻ nghèo dồi dào thức ăn.
  Ta sẽ lấy sự cứu rỗi mặc cho các thầy tế lễ
   và những kẻ thờ phụng ta sẽ vui hát.
  Ta sẽ chọn ra một vị vua từ gia tộc Đa-vít.
   Ta sẽ chọn trong dòng dõi người một người làm vua để kế vị Đa-vít.
  Ta sẽ lấy sỉ nhục bao trùm kẻ thù nghịch người,
   nhưng mão triều người sẽ sáng chói.

……………….

Chương một trăm ba mươi ba.

Tình yêu của dân Chúa

Bài ca khi đang đi lên thờ phụng Do Đa-vít sáng tác.

  Khi con dân Chúa cùng chung sống trong hoà thuận thật rất tốt đẹp.
  Giống như dầu thơm đổ lên đầu thầy tế lễ chảy xuống râu.
   Chảy xuống râu A-rôn
   và chảy lên cổ áo người.
  Như sương trên núi Hẹt-môn
   rơi xuống các đồi quanh Giê-ru-sa-lem.
  Đó là nơi hưởng phước lâu dài
   của Chúa cho đến đời đời.

…………….

 

Chương một trăm ba mươi bốn.

Mọi người hãy ca ngợi Ngài

Bài ca khi đang đi lên thờ phụng.

  Hỡi các tôi tớ Chúa,
   là những kẻ phục vụ ban đêm ở đền thờ,
   hãy ca ngợi Ngài.
  Hãy giơ tay lên trong đền thờ mà ca ngợi Chúa.
  Nguyện Chúa ban phước cho các ngươi từ núi Xi-ôn,
   Ngài là Đấng dựng nên trời đất.

……………………..

 

Chương một trăm ba mươi lăm.

Chúa là Đấng cứu, các thần tượng
đều vô ích

  Hãy ca ngợi Chúa!
  Hãy ca ngợi danh Chúa;
  Hỡi các tôi tớ Chúa và
  những kẻ đứng trong đền thờ Chúa
   cùng trong sân đền thờ,
   hãy ca ngợi Ngài.
  Hãy ca ngợi Ngài,
   vì Ngài nhân từ;
   hãy hát ca ngợi Ngài vì Ngài tuyệt vời.
  Chúa đã chọn dân Gia-cốp cho mình;
   Ngài tuyển chọn dân Ít-ra-en cho chính mình.
  Tôi biết Chúa là Đấng cao cả.
   Chúa chúng tôi vĩ đại cao cả hơn tất cả các thần.
  Ngài làm điều đẹp ý Ngài,
   ở trên trời và dưới đất,
   trên biển và trong các đại dương sâu.
  Ngài mang mây đến từ cuối trái đất,
   Sai sấm chớp đến với mưa.
   Mang gió ra từ các kho chứa mình.
  Ngài tiêu diệt các con trai đầu lòng xứ Ai-cập của người lẫn gia súc.
  Ngài làm nhiều dấu kỳ và phép lạ ở Ai-cập nghịch lại vua và các tôi tớ người.
  Ngài đánh bại các quốc gia và giết các vua hùng mạnh:
  Tức Si-hôn,
   vua dân A-mô-rít,
   Óc, vua của Ba-san,
   và tất cả các vua Ca-na-an.
  Rồi Ngài ban đất của họ làm món quà cho dân Ngài, tức dân Ít-ra-en.
  Lạy Chúa, danh Chúa còn đến đời đời;
   Lạy Chúa, Ngài sẽ được ghi nhớ mãi mãi.
  Chúa bênh vực dân Ngài
   và tỏ lòng thương xót cho các tôi tớ Ngài.
  Hình tượng của các dân đều làm bằng bạc hay vàng,
   sản phẩm của tay người.
  Chúng nó có miệng mà không nói được.
  Có mắt mà chẳng thấy.
  Có lỗ tai mà không nghe.
   Miệng không hơi thở.
  Những kẻ tạc hình tượng cũng giống như các hình tượng ấy,
   những ai tin chúng nó cũng như vậy.
  Hỡi nhà Ít-ra-en,
   hãy ca ngợi Chúa.
  Hỡi nhà A-rôn, hãy ca ngợi Chúa.
  Hỡi nhà Lê-vi hãy ca ngợi Chúa.
   Những ai kính sợ Chúa
   hãy ca ngợi Ngài.
  Hỡi cư dân Giê-ru-sa-lem,
   hãy ca ngợi Chúa trên núi Xi-ôn.
  Hãy ca ngợi Chúa!

…………………….

 

Chương một trăm ba mươi sáu.

Tình yêu Chúa vững bền mãi mãi

  Hãy cảm tạ Thượng Đế vì Ngài nhân từ.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Hãy cảm tạ Thượng Đế của các thần.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Hãy cảm tạ Chúa các Chúa.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Chỉ một mình Ngài làm được các phép lạ.
   Tình yêu Ngài còn đời đời.
  Nhờ sự khôn ngoan,
   Ngài tạo nên bầu trời.
  Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài trải đất ra trên biển.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài tạo ra mặt trời và mặt trăng.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài đặt mặt trời cai trị ban ngày.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài để mặt trăng và các ngôi sao cai trị ban đêm.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài giết các con đầu lòng của người Ai-cập.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài mang dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài dùng quyền năng và sức mạnh lớn lao mình thực hiện điều đó.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài rẽ Hồng hải. ra.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài đưa dân Ít-ra-en đi ngang giữa biển.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Nhưng vua và toàn thể đạo quân Ai-cập bị chết đuối trong Hồng hải.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài dẫn dân Ngài ra qua sa mạc.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài đánh bại các vua lớn.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài giết các vua hùng mạnh.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài đánh bại Si-hôn, vua dân A-mô-rít.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài đánh bại Óc, vua của Ba-san.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài ban đất của họ cho chúng ta.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài ban đất ấy cho dân Ít-ra-en, tôi tớ Ngài như một quà biếu.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài nhớ chúng ta khi chúng ta gặp khốn đốn.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài giải thoát chúng ta khỏi tay kẻ thù.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Ngài ban thực phẩm cho mọi sinh vật.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
  Hãy cảm tạ Thượng Đế của các từng trời.
   Tình yêu Ngài vững bền đời đời.

………………………..

 

Chương một trăm ba mươi bảy.

Dân Ít-ra-en bị lưu đày

  Chúng tôi ngồi bên các sông Ba-by-lôn và khóc khi tưởng nhớ đến Giê-ru-sa-lem.
  Chúng tôi treo đờn cầm trên cây dương liễu gần đó.
  Những kẻ bắt chúng tôi làm tù binh bảo chúng tôi hát;
   Kẻ thù chúng tôi muốn nghe bài ca vui.
   Chúng bảo,
   “Hãy hát cho chúng ta nghe một bài về Giê-ru-sa-lem đi!”
  Nhưng chúng tôi làm sao hát về Chúa được trong khi chúng tôi đang bị lưu đày ở nước người?
  Giê-ru-sa-lem ơi, nếu ta quên ngươi,
   nguyện tay phải ta mất khả năng đi.
  Nếu ta không còn nhớ ngươi nữa
   hay nếu ta không nghĩ đến ngươi như là niềm vui nhất của ta
   thì nguyện lưỡi ta kẹt dính nơi vòm họng.
  Lạy Chúa, xin hãy nhớ lại điều dân Ê-đôm làm trong ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ.
   Chúng bảo, “Hãy phá sập nó đi!
   Hãy phá sập cho đến tận nền nó đi!”
  Hỡi dân Ba-by-lôn,
   các ngươi sẽ bị tiêu diệt.
  Những kẻ báo trả các ngươi về điều các ngươi làm cho chúng ta sẽ vui mừng.
  Chúng sẽ bắt con nhỏ các ngươi ném vào tảng đá.

…………………..

 

Chương một trăm ba mươi tám.

Bài hát tạ ơn

Thi thiên của Đa-vít.

  Lạy Chúa, tôi hết lòng cảm tạ Ngài;
   Tôi sẽ hát ca ngợi Ngài trước mặt các thần.
  Tôi sẽ cúi mình hướng về đền thờ Ngài,
   và cảm tạ Chúa vì tình yêu và sự thành tín của Ngài.
  Ngài đã làm cho danh Chúa và lời Ngài được tôn cao.
  Trong ngày tôi kêu cầu cùng Chúa,
   Ngài trả lời tôi.
  Ngài làm cho tôi mạnh mẽ
   và can đảm.
  Lạy Chúa, nguyện các vua trên đất ca ngợi Ngài
   khi họ nghe lời Ngài phán.
  Họ sẽ ca ngợi Ngài về những điều Ngài làm,
   vì sự vinh hiển của Ngài rất lớn.
  Dù là Đấng Chí Cao,
  Chúa cũng chăm sóc đến những kẻ khiêm nhường,
   nhưng Ngài lánh xa kẻ tự phụ.
  Chúa ôi, khi những cảnh nguy khốn vây quanh tôi tứ phía,
   Ngài sẽ gìn giữ mạng sống tôi.
  Khi kẻ thù tôi nổi giận,
   Chúa sẽ lấy quyền năng với tay xuống cứu tôi.
  Lạy Chúa, Ngài làm mọi sự cho tôi.
   Lạy Chúa, tình yêu Ngài còn đời đời.
  Xin đừng lìa bỏ chúng tôi,
   là những kẻ Ngài dựng nên.

………………….

 

Chương một trăm ba mươi chín.

Thượng Đế biết hết mọi việc

Thi thiên của Đa-vít. Soạn cho nhạc trưởng.

  Lạy Chúa, Ngài đã tra xét và thấu hiểu tất cả về tôi.
  Chúa biết khi tôi ngồi,
   lúc tôi đứng dậy.
  Ngài rõ các tư tưởng tôi,
   trước khi tôi nghĩ tới chúng.
  Chúa biết chỗ tôi đi,
   nơi tôi nằm xuống.
  Ngài thấu rõ mọi hành vi tôi.
  Trước khi tôi mở miệng nói nửa câu, thì, Chúa ôi,
   Ngài đã biết trước rồi.
  Ngài bao quanh tôi phía trước lẫn phía sau,
   và đặt tay Ngài trên tôi.
  Sự khôn ngoan của Ngài thật quá diệu kỳ đối với tôi;
   vượt quá khả năng hiểu biết của tôi.
  Tôi đi đâu để tránh khỏi Thánh Linh Chúa?
   Chạy đâu để tránh mặt Chúa?
  Nếu tôi lên trời,
   Chúa có ở đó.
  Nếu tôi nằm trong mồ mả,
   Chúa cũng có ở đó.
  Nếu tôi mọc lên từ phía Đông cùng với mặt trời,
   hay lặn xuống phía Tây quá bên kia biển,
  thì Chúa cũng có ở đó để dẫn dắt tôi.
   Tay phải Chúa sẽ nắm tôi.
  Nếu tôi nói,
   “Bóng tối sẽ che kín tôi.
  Nguyện xin ánh sáng quanh tôi biến thành bóng tối.”
  Nhưng bóng tối không che được mắt Ngài.
   Bóng tối cũng sáng như ban ngày;
  Vì đối với Chúa tối và sáng chẳng khác gì nhau.
  Chúa đã tạo nên con người tôi;
  Ngài nắn nên tôi từ trong bụng mẹ.
  Tôi ca ngợi Ngài vì Ngài dựng nên tôi một cách kỳ diệu.
   Điều Chúa làm thật lạ lùng.
  Tôi biết rất rõ.
  Chúa thấy xương cốt tôi được tạo nên trong khi tôi thành hình trong bụng mẹ tôi.
   Khi tôi được tạo dựng nên trong đó,
  Ngài thấy thân thể tôi thành hình.
   Trước khi tôi chào đời được một ngày
   thì số các ngày đã định cho tôi đã được ghi vào sổ Chúa.
  Thượng Đế ôi,
   tư tưởng Chúa thật quá quí báu đối với tôi.
  Số tư tưởng đó thật quá nhiều.
  Nếu tôi thử đếm
   thì nhiều hơn cát bãi biển.
  Khi tôi thức giấc, tôi vẫn ở với Chúa.
  Chúa ôi, tôi mong Ngài diệt kẻ ác!
   Bớ bọn sát nhân,
   hãy đi xa khỏi ta!
  Chúng nói xấu Ngài.
   Kẻ thù Chúa dùng danh Chúa cách bữa bãi.
  Chúa ôi, tôi ghét kẻ ghét Chúa;
   Tôi ghét kẻ chống nghịch Ngài.
  Tôi ghét chúng quá sức;
   chúng nó là kẻ thù tôi.
  Lạy Chúa, xin hãy tra xét tôi và hiểu lòng tôi;
   xin thử nghiệm tôi và biết các sự lo lắng trong lòng tôi.
  Xin đừng để tôi bước trên lối sai lạc..
   Xin dẫn tôi vào con đường phải lẽ.

……………………..

 

Chương một trăm bốn mươi.

Cầu xin được bảo vệ

Thi thiên của Đa-vít. Soạn cho nhạc trưởng.

  Chúa ôi, xin giải cứu tôi khỏi kẻ ác;
   bảo bọc tôi khỏi người hung bạo
  là những kẻ lập mưu ác,
   lúc nào cũng gây hấn.
  Lưỡi chúng chích như rắn;
   lời nói chúng như nọc rắn.
  Xê-la
  Lạy Chúa, xin giữ gìn tôi khỏi quyền lực kẻ dữ;
   bảo vệ tôi khỏi những kẻ hung bạo chỉ lăm le đánh bẫy tôi.
  Kẻ tự phụ lén gài bẫy hại tôi.
   Chúng giăng lưới bên đường;
  Chúng gài bẫy cho tôi sụp.
  Xê-la
  Tôi thưa cùng Chúa,
   “Ngài là Chúa tôi.”
  Lạy Chúa, xin nghe tiếng
   kêu cứu của tôi.
  Lạy Chúa là Thượng Đế,
   Đấng Cứu Chuộc mạnh mẽ của tôi,
  Ngài gìn giữ tôi trong chiến trận.
  Lạy Chúa, xin đừng ban cho kẻ ác điều chúng ao ước.
   Xin đừng để các mưu mô chúng thành tựu,
  Nếu không chúng sẽ đâm ra tự phụ.
  Xê-la
  Những kẻ quanh tôi âm mưu mờ ám.
   Nguyện âm mưu đó trở lại hãm hại chúng.
  Nguyện than lửa rơi trên đầu chúng.
   Xin hãy ném chúng vào lửa hay vào hố không lối thoát.
  Xin đừng để kẻ gian dối thành công.
   Nguyện tai họa theo đuổi chúng.
  Tôi biết Chúa sẽ mang công lý đến cho kẻ nghèo,
   Ngài sẽ bênh vực kẻ khốn khó nơi tòa án.
  Người nhân đức sẽ ca ngợi danh Ngài;
   Kẻ lương thiện sẽ sống trong sự hiện diện của Ngài.

………………….

 

Chương một trăm bốn mươi mốt.

Cầu xin được tránh xa tội lỗi

Thi thiên của Đa-vít.

  Lạy Chúa, tôi kêu xin Ngài.
   Xin hãy mau mau đến cùng tôi.
  Khi tôi kêu cầu, xin hãy lắng nghe.
  Nguyện lời cầu nguyện tôi như trầm hương bay tỏa lên trước mặt Ngài,
   và lời ca ngợi tôi như của lễ buổi chiều.
  Lạy Chúa, xin giúp tôi kiềm chế lưỡi tôi;
   giúp tôi thận trọng trong lời ăn tiếng nói.
  Xin cất khỏi tôi ý muốn làm ác
   hay nhập bọn làm điều sái bậy.
  Xin đừng để tôi ngồi ăn tiệc chung với kẻ ác.
  Hãy để người chân chính sửa trị tôi,
   vì đó là điều tốt cho tôi.
  Nếu người sửa dạy tôi, tôi sẽ vui mừng đón nhận.
  Tôi sẽ mãi cầu xin được chống nghịch lại kẻ làm ác.
  Nguyện các người lãnh đạo chúng bị xô xuống vực.
   Bấy giờ mọi người sẽ biết rằng tôi nói đúng:
  “Đất đã bị cày lên và bể vụn ra.
   Cũng vậy, xương cốt chúng sẽ bị phân tán trong huyệt mả.”
  Thượng Đế ôi, tôi trông đợi Ngài cứu giúp.
   Lạy Chúa, tôi tin cậy nơi Ngài.
   Xin đừng để tôi phải chết mất.
  Xin bảo hộ tôi khỏi những cạm bẫy mà chúng gài để bắt tôi
   và khỏi lưới kẻ ác giăng ra.
  Nguyện kẻ ác mắc vào lưới chúng nó đã giăng,
   Nhưng nguyện tôi đi qua vô sự.

………………….

 

Chương một trăm bốn mươi hai.

Cầu xin được an toàn

Bài mạch kinh của Đa-vít khi ông trốn trong hang. Lời cầu nguyện.

  Tôi kêu xin cùng Chúa;
   Tôi nài xin Chúa thương xót.
  Tôi trút đổ tâm tư tôi cùng Ngài;
   Tôi trình bày cùng Chúa nỗi sầu khổ của tôi.
  Chúa ôi, khi tôi lo sợ,
   thì Chúa chỉ cho tôi lối ra.
  Trên đường tôi đi,
   Có cái bẫy gài kín.
  Xin hãy nhìn quanh tôi.
   Chẳng ai lo lắng cho tôi.
  Tôi chẳng tìm được chỗ nào an ninh cả.
   Nào có ai lo cho mạng sống tôi.
  Chúa ôi, tôi kêu cầu cùng Ngài.
   Tôi thưa, “Ngài là nơi bảo vệ tôi.
  Ngài là niềm mong ước tôi trên đời nầy.”
  Xin hãy lắng nghe tiếng kêu của tôi.
   Vì tôi cô thế.
  Xin giải cứu tôi khỏi những kẻ rượt đuổi tôi,
   Vì chúng mạnh hơn tôi.
  Xin giải thoát tôi khỏi ngục tù,
   rồi tôi sẽ ca ngợi danh Ngài.
  Những người nhân đức sẽ ở chung quanh tôi,
   vì Ngài chăm sóc tôi.

………………..

 

Chương một trăm bốn mươi ba.

Cầu xin được thoát chết

Thi thiên của Đa-vít.

  Lạy Chúa, xin nghe lời cầu xin tôi.
   Lắng nghe tiếng tôi kêu xin được cứu giúp.
  Xin cho tôi thấy Ngài thành tín và nhân từ.
  Xin đừng xét xử tôi,
   kẻ tôi tớ Chúa,
  vì không có con người nào vô tội trước mặt Ngài.
  Kẻ thù tôi đang rượt đuổi tôi;
   Chúng chà đạp tôi xuống đất.
  Chúng bắt tôi sống trong tăm tối
   như kẻ đã chết lâu đời rồi.
  Tôi quá run sợ; tôi hết can đảm rồi.
  Tôi nhớ lại ngày xưa;
   Tôi xem xét mọi việc Chúa làm.
  Tôi suy nghĩ những kỳ công của Ngài.
  Tôi giơ tay lên cùng Ngài và cầu nguyện.
   Như đất khô hạn cần nước.
  Tôi khao khát Ngài.
  Xê-la
  Lạy Chúa, xin hãy mau mau trả lời tôi,
   vì tôi đang suy yếu.
  Xin đừng tránh mặt tôi,
   Nếu không tôi sẽ giống như kẻ đã qua đời.
  Buổi sáng xin tỏ cho tôi biết tình yêu Ngài,
   vì tôi tin cậy nơi Chúa.
  Xin cho tôi biết điều tôi phải làm,
   Vì lời cầu xin tôi lên đến trước mặt Ngài.
  Chúa ôi, xin giải cứu tôi khỏi kẻ thù tôi;
   Tôi ẩn núp trong Ngài.
  Xin dạy tôi biết ý muốn Ngài,
   vì Ngài là Thượng Đế tôi.
  Xin Thánh Linh nhân lành của Chúa
   đặt tôi đứng trên thế đất bằng phẳng.
  Lạy Chúa, xin cho tôi được sống
   để người ta ca ngợi Ngài.
  Vì sự nhân từ Chúa,
   xin hãy cứu tôi ra khỏi mọi gian nan.
  Vì tình yêu Ngài,
   xin hãy đánh bại kẻ thù tôi.
  Xin hãy tiêu diệt mọi kẻ quấy rối tôi,
   Vì tôi là tôi tớ Ngài.

……………………

 

Chương một trăm bốn mươi bốn.

Lời cầu xin được chiến thắng

Do Đa-vít sáng tác.

  Tôi ca ngợi Chúa là Khối Đá tôi,
   Đấng dạy tôi đánh giặc,
  Ngài dạy tôi chiến đấu.
  Ngài yêu thương và bảo vệ tôi.
   Ngài là nơi ẩn náu an toàn của tôi trên núi cao.
   Ngài là Đấng bảo vệ và Đấng Cứu Chuộc tôi,
  Là cái thuẫn. và nguồn che chở tôi.
   Ngài giúp tôi quản trị dân tộc tôi.
  Lạy Chúa, loài người là gì mà Chúa lưu tâm?
   Tại sao Chúa lo nghĩ đến con người?
  Loài người như hơi thở;
   sự sống con người như bóng thoảng qua.
  Lạy Chúa, xin mở bầu trời và nhìn xuống.
   Xin đụng đến núi cho chúng bốc khói lên.
  Xin sai sấm chớp xuống
   làm kẻ thù tôi chạy tán loạn.
   Xin hãy bắn tên để chúng bỏ chạy.
  Xin hãy với tay xuống từ trời.
   Giải cứu tôi khỏi nước lũ,
   khỏi các kẻ thù nghịch,
   và khỏi tay bọn ngoại quốc.
  Bọn chúng là đồ láo khoét và bất lương.
  Lạy Thượng Đế, tôi sẽ hát một bài ca mới cho Ngài;
   Tôi sẽ khảy đờn cầm mười dây cho Ngài thưởng thức.
  Ngài ban chiến thắng cho các vua.
   Ngài cứu Đa-vít kẻ tôi tớ Ngài khỏi lưỡi gươm hiểm độc.
  Xin hãy giải cứu tôi khỏi bọn ngoại quốc nầy.
   Chúng nó toàn là dối trá và bất lương.
  Xin cho các con trai thanh xuân của chúng tôi lớn lên như cây cối,
   và con gái chúng tôi như đá chạm trổ trong đền thờ.
  Xin hãy cho các kho chứa chúng tôi
   tràn đầy hoa lợi đủ loại.
  Xin cho bầy chiên chúng tôi ngoài đồng
   sinh sản hằng ngàn hằng vạn chiên con.
  Xin khiến bầy gia súc chúng tôi sinh sôi nẩy nở.
   Nguyện không có kẻ trộm lẻn vào.
  Không có tranh chiến hay tiếng la hãi hùng
   trên đường phố chúng tôi.
  Phúc cho người nào được hưởng khung cảnh như vậy;
   Phúc cho dân tộc nào có Thượng Đế làm Chúa mình.

………………..

 

Chương một trăm bốn mươi lăm.

Ca ngợi Thượng Đế là vua

Thi thiên ca ngợi của Đa-vít.

  Lạy Chúa là vua,
   tôi ca ngợi sự cao cả của Ngài;
  Tôi sẽ ca ngợi Ngài mãi mãi.
  Hằng ngày tôi sẽ ca ngợi Ngài.
   Tôi sẽ ca ngợi Ngài đời đời kiếp kiếp.
  Chúa là Đấng cao cả đáng được tán tụng;
   không ai dò được sự cao cả của Ngài.
  Cha mẹ thuật lại cho con cái điều Ngài đã làm.
   Họ sẽ thuật lại những kỳ công của Ngài,
  sự oai nghi lạ lùng và vinh hiển Ngài.
   Tôi sẽ suy nghĩ về những phép lạ Ngài.
  Họ sẽ thuật lại những việc diệu kỳ Ngài đã làm,
   còn tôi sẽ thuật lại sự cao cả của Ngài.
  Họ sẽ nhớ lại sự nhân từ lớn lao của Ngài,
   và ca tụng sự công chính Ngài.
  Chúa thật nhân từ, giàu lòng từ ái.
   Ngài chậm giận và đầy lòng yêu thương.
  Chúa nhân từ đối với mọi người;
   Ngài luôn thương xót những vật Ngài tạo nên.
  Lạy Chúa, mọi vật Ngài làm nên sẽ ca ngợi Ngài;
   những ai thuộc về Ngài sẽ chúc tụng Ngài.
  Họ sẽ thuật lại sự vinh hiển của nước Ngài,
   và kể lại quyền năng Ngài.
  Mọi người sẽ biết những việc lớn lao Ngài làm
   cùng quyền năng và sự oai nghi của nước Ngài.
  Nước Ngài sẽ còn đời đời,
   Ngài sẽ mãi mãi cai trị.
  Chúa sẽ luôn luôn giữ lời hứa Ngài;
   Ngài thành tín đối với những vật Ngài tạo nên.
  Chúa giúp những ai đang bị thất thế
   và chăm sóc những kẻ đang lâm cảnh khó khăn.
  Mọi sinh vật đều trông đợi Chúa ban thức ăn.
   Ngài cho chúng đồ ăn đúng giờ.
  Chúa xòe tay ra, thoả mãn muôn vật.
  Mọi điều Chúa làm đều đúng.
   Ngài thành tín đối với những vật Ngài tạo nên.
  Chúa ở gần những kẻ cầu xin Ngài,
   tức những ai thật lòng tìm kiếm Ngài.
  Ngài ban cho những kẻ tôn kính Ngài
   điều họ ao ước.
  Ngài nghe tiếng họ khi họ kêu cứu và giải cứu họ.
  Chúa bảo vệ những ai yêu mến Ngài,
   nhưng Ngài tiêu diệt kẻ ác.
  Tôi sẽ ca ngợi Chúa.
  Tất cả mọi người hãy ca ngợi danh thánh của Ngài
   cho đến đời đời.

……………………………

 

Chương một trăm bốn mươi sáu.

Ca ngợi Thượng Đế vì Ngài
giúp đỡ kẻ yếu thế

  Hãy ca ngợi Chúa!
   Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Ngài.
  Tôi sẽ ca ngợi Ngài trọn đời tôi;
   Hễ tôi còn sống bao lâu tôi sẽ ca ngợi Chúa bấy lâu.
  Chớ nên tin cậy vua chúa hay loài người,
   là những kẻ không thể cứu ngươi.
  Khi con người chết, họ bị chôn trong đất.
   Bao nhiêu dự định họ đều tan theo mây khói.
  Phúc cho những kẻ được Thượng Đế của Gia-cốp giúp đỡ.
   Họ đặt hi vọng đặt trong Chúa là Thượng Đế của mình.
  Ngài tạo nên trời, đất,
   biển và mọi vật trong đó.
  Ngài giữ lòng thành tín đến đời đời.
  Ngài xử công bằng cho kẻ bị ức hiếp.
   Ban thức ăn cho kẻ đói khổ.
  Chúa giải phóng người bị tù.
  Khiến kẻ mù được sáng mắt.
   Chúa nâng đỡ kẻ gặp khó khăn.
  Ngài yêu mến người làm điều phải.
  Chúa bảo vệ các ngoại kiều.
   Ngài bênh vực trẻ mồ côi và người góa bụa,
  Nhưng Ngài cản đường kẻ ác.
  Chúa sẽ làm vua cho đến đời đời,
   Hỡi Giê-ru-sa-lem, Thượng Đế ngươi còn đời đời.
  Ngợi ca Chúa!

………………………….

 

Chương một trăm bốn mươi bảy.

Ca ngợi Chúa là Đấng giúp đỡ dân Ngài

  Hãy ca ngợi Chúa!
   Hãy nên ca tụng Thượng Đế chúng ta vì đó là điều tốt lành.
  Ngài đáng được chúng ta ca ngợi.
  Chúa xây dựng lại Giê-ru-sa-lem,
   Ngài mang các tù nhân Ít-ra-en trở về.
  Ngài hàn gắn lại những tấm lòng tan vỡ,
   băng bó các vết thương họ.
  Ngài đếm các ngôi sao và đặt từng tên cho chúng.
  Chúa chúng ta vô cùng vĩ đại và quyền năng.
   Sự thông hiểu Ngài thật vô hạn.
  Ngài bênh vực người khiêm nhường,
   nhưng xô kẻ ác té xuống đất.
  Hãy ca ngợi Chúa;
   khảy đờn cầm mà chúc tụng Ngài.
  Ngài phủ mây đầy bầu trời,
   sai mưa tưới đất
   và khiến cỏ mọc phủ các đồi núi.
  Ngài ban thức ăn cho súc vật và các chim non kêu ríu rít.
  Ngài không quan tâm đến sức mạnh của ngựa
   hay sức lực của con người.
  Ngài hài lòng với người kính sợ Ngài,
   với những người tin cậy nơi tình yêu Ngài.
  Hỡi Giê-ru-sa-lem,
   hãy ca ngợi Chúa;
  Hỡi Giê-ru-sa-lem,
   hãy ca ngợi Thượng Đế ngươi.
  Ngài củng cố các cửa thành ngươi,
   ban phước cho các con cái sống trong thành ngươi.
  Ngài ban hòa bình cho xứ ngươi
   và cho ngươi đầy dẫy ngũ cốc tốt nhất.
  Ngài ra lệnh cho đất,
   nó liền vâng lời Ngài.
  Ngài trải tuyết ra như lông chiên
   và rải sương tuyết ra như tro.
  Ngài rắc mưa đá xuống như sỏi.
   Không ai chịu nổi luồng gió lạnh của Ngài.
  Rồi Ngài ra lệnh, tuyết giá liền tan.
   Ngài sai luồng gió đến, nước liền chảy.
  Ngài ban mệnh lệnh cho Gia-cốp,
   và luật lệ cùng mệnh lệnh Ngài cho Ít-ra-en.
  Không có quốc gia nào khác được ân huệ đó.
   Họ không biết luật lệ Ngài.
  Hãy ca ngợi Chúa!

…………………………..

 

Chương một trăm bốn mươi tám.

Cả thế giới nên ca ngợi Chúa

  Hãy ca ngợi Chúa!
   Hãy ca tụng Chúa từ các từng trời.
  Hãy ca ngợi từ chốn không trung.
  Hỡi các thiên sứ,
   hãy ca ngợi Ngài.
  Hỡi các đạo binh thiên quốc,
   hãy ca tụng Ngài.
  Hỡi mặt trời, mặt trăng hãy ca ngợi Chúa.
   Hỡi các ngôi sao sáng hãy ca tụng Ngài.
  Hỡi các từng trời cao và nước trên các từng trời hãy ca ngợi Ngài.
  Tất cả hãy ca ngợi Chúa,
   vì mọi vật được tạo nên đều do mệnh lệnh Ngài.
  Ngài đặt chúng vào vị trí cho đến đời đời,
   Ngài đặt ra luật pháp bất di bất dịch.
  Hãy ca ngợi Chúa từ dưới đất,
   hỡi các sinh vật to lớn sống trong biển cùng các đại dương,
  Hỡi sấm chớp và mưa đá,
   tuyết và sương,
   gió bão vâng lời Ngài.
  Hỡi các núi đồi,
   các cây trái và các cây hương nam,
  các dã thú và gia súc,
   các sinh vật bò sát cùng các loài chim muông,
  hỡi các vua thế gian cùng các dân tộc,
   các quan tước và các nhà cầm quyền trên đất,
  hỡi các thanh niên thiếu nữ,
   người già cả cùng trẻ em,
  Hãy ca tụng Ngài vì chỉ một mình Ngài là Đấng cao cả.
   Sự oai nghi Ngài vượt hơn trời đất.
  Thượng Đế đã ban cho dân Ngài một vị vua.
   Những ai thuộc về Ngài hãy ca ngợi Ngài.
  Toàn dân Ít-ra-en hãy ca ngợi Chúa,
   tức là dân thuộc về Ngài.
  Hãy ca ngợi Chúa!

…………………

 

Chương một trăm bốn mươi chín.

Ca ngợi Thượng Đế của Ít-ra-en

  Hãy ca ngợi Chúa!
   Hãy hát một bài ca mới cho Ngài;
  Hãy ca ngợi giữa buổi họp của dân Ngài.
  Toàn dân Ít-ra-en hãy vui mừng vì Thượng Đế,
   Đấng dựng nên mình.
  Dân cư Giê-ru-sa-lem hãy vui mừng vì vua mình.
  Hãy nhảy múa mà ca ngợi Ngài.
   Hãy đánh trống cơm và dùng đờn cầm mà ca tụng Chúa.
  Chúa hài lòng với dân Ngài;
   Ngài cứu kẻ khiêm nhường.
  Hỡi những ai thờ phụng Ngài
   hãy vui mừng trong vinh hiển Ngài.
  Dù khi đang nằm trên giường cũng hãy ca tụng Ngài!
  Mọi người hãy lớn tiếng ca tụng Chúa
   bằng gươm hai lưỡi trong tay.
  Họ sẽ trừng phạt các nước,
   đánh bại các dân.
  Họ sẽ trói các vua bằng xiềng
   và cột những người có quyền thế bằng xích sắt.
  Họ sẽ trừng phạt chúng theo bản án Thượng Đế định.
   Đó là vinh dự cho những kẻ theo Ngài.
  Hãy ca tụng Chúa!

…………..

 

Chương một trăm năm mươi.

Hãy dùng âm nhạc mà ca ngợi Chúa

  Hãy ca ngợi Chúa!
   Hãy ca tụng Thượng Đế trong đền thờ Ngài;
  Hãy tán dương Chúa trên các từng trời hùng vĩ.
  Hãy ca ngợi sức mạnh Ngài,
   tán tụng Chúa vì sự cao cả của Ngài.
  Hãy thổi hồi kèn vang dội mà ca tụng Chúa.
   Hãy khảy đờn cầm với đờn sắt mà tán dương Ngài.
  Hãy đánh trống cơm và nhảy múa mà ca ngợi Ngài.
   Hãy dùng nhạc khí bằng dây và sáo mà ca tụng Chúa.
  Hãy đánh chập chỏa
   và phèn la vang rền để ca ngợi Ngài.
  Mọi vật có hơi thở hãy ca ngợi Chúa.
  Hãy ca tụng Ngài!

……………….

 

 

No comments:

Post a Comment