Thursday, January 18, 2024

giê rê mi - phổ thông

Chương ba mươi mốt.

Nước Ít-ra-en mới

 CHÚA phán, “Lúc đó ta sẽ làm Thượng Đế cho cả dòng họ Ít-ra-en, họ sẽ làm dân ta.”
  CHÚA phán như sau:
  “Những người không bị giết bằng gươm của kẻ thù
   nhận được sự giúp đỡ trong sa mạc.
   Ta đến để ban cho Ít-ra-en sự nghỉ ngơi.”
  Và từ xa CHÚA hiện ra cùng dân Ngài và nói,
   “Ta yêu các ngươi bằng tình yêu còn đời đời.
   Vì thế ta đã luôn tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi.
  Hỡi dân Ít-ra-en, ta sẽ nâng đỡ các ngươi trở lại,
   ngươi sẽ được phục hưng.
  Ngươi sẽ lại cầm trống cơm
   và nhảy múa với những kẻ vui mừng.
  Ngươi sẽ lại trồng vườn nho
   trên các đồi quanh Xa-ma-ri.
  Các nông gia sẽ trồng nho và hưởng hoa quả.
  Sẽ đến lúc những lính canh
   trong vùng núi Ép-ra-im hô to như sau:
  ‘Chúng ta hãy lên Giê-ru-sa-lem
   để thờ lạy CHÚA là Thượng Đế chúng ta!’”
  Vì CHÚA phán như sau:
   “Hãy vui mừng xướng hát cho dân Gia-cốp.
  Hãy la to lên cho Ít-ra-en,
   dân tộc nổi danh nhất trên thế gian.
  Hãy hát bài ca ngợi và la to lên như sau:
   ‘CHÚA đã cứu dân Ngài,
  là những người còn sống sót
   trong quốc gia Ít-ra-en!’
  Nầy, ta sẽ mang Ít-ra-en về từ xứ miền Bắc,
   và gom họ lại từ các nơi xa xăm trên đất.
  Một số bị mù lòa và què quặt.
   Một số đàn bà đang mang thai,
  một số khác sắp sinh đẻ.
   Nhiều người sẽ trở về.
  Họ sẽ vừa về vừa khóc,
   nhưng họ sẽ cầu nguyện
   khi ta mang họ trở về.
  Ta sẽ dẫn dắt họ bên suối nước,
   trên đường bằng phẳng để họ không ngã té.
  Vì ta là cha của Ít-ra-en,
   và Ít-ra-en là con đầu lòng của ta.
  Hỡi các dân, hãy nghe lời CHÚA phán.
  Hãy thuật lại sứ điệp nầy
   trong các xứ duyên hải xa xôi.
  ‘Đấng phân tán dân Ít-ra-en sẽ mang họ trở về,
   và Ngài sẽ coi sóc dân Ngài như người chăn chiên.’
  Thật vậy, CHÚA sẽ chuộc lại dân Gia-cốp
   và sẽ mang họ về từ những dân mạnh hơn họ.
  Dân Ít-ra-en sẽ đến trên đỉnh núi Xi-ôn
   và la hét vui mừng.
  Gương mặt họ sẽ sáng rỡ lên
   với vẻ hớn hở về những ơn lành từ CHÚA:
   nào ngũ cốc, rượu mới, dầu, chiên con, và bò con.
  Họ sẽ như vườn nhiều nước,
   và sẽ không gặp khốn khó nữa.
  Lúc đó các thiếu nữ Ít-ra-en
   sẽ vui mừng nhảy múa,
   và các thanh niên cùng người già cả cũng vậy.
  Ta sẽ biến sự buồn bã của họ ra vui mừng,
   Ta sẽ ban cho họ niềm yên ủi
   và vui mừng thay vì sầu não.
  Các thầy tế lễ sẽ có dư dật của lễ,
   và dân ta sẽ đầy dẫy những vật tốt
   mà ta ban cho!” CHÚA phán vậy.
  CHÚA phán: “Có âm thanh vang lên từ Ra-ma,
   tiếng khóc thảm sầu cay đắng.
  Đó là tiếng Ra-chên khóc con cái mình.
  Nàng không khuây khỏa được,
   vì chúng nó chết rồi!”
  Nhưng CHÚA phán như sau: “Đừng khóc nữa;
   đừng để mắt ngươi đẫm lệ.
  Ngươi sẽ được đền bù công khó mình!” CHÚA phán vậy.
   “Dân chúng sẽ trở về từ xứ quân thù.
  Cho nên ngươi sẽ có hi vọng trong tương lai,” CHÚA phán vậy.
   “Con cái ngươi sẽ trở về xứ mình.
  Ta đã nghe Ít-ra-en than vãn:
  ‘Lạy CHÚA, Ngài trừng phạt tôi,
   và tôi đã học được bài học.
   Tôi như bò con chưa hề mang ách.
  Xin hãy mang tôi về để tôi có thể trở về nhà.
   Ngài thật là CHÚA và Thượng Đế tôi.
  Thật vậy, lạy CHÚA, sau khi đã lạc xa khỏi Ngài,
   tôi đã thay đổi lòng và nếp sống.
  Sau khi tôi đã hiểu, tôi đấm ngực ân hận.
   Tôi bị hổ nhục,
   vì tôi đã phải chịu khổ,
   do những điều dại dột tôi làm khi còn trẻ.’”
  “Các ngươi biết rằng Ít-ra-en
   là con yêu dấu của ta, đứa con ta yêu.
  Đành rằng ta thường nói nghịch cùng Ít-ra-en,
   nhưng ta vẫn hằng nhớ nó,
  ta rất yêu thương nó,
   muốn an ủi nó,” CHÚA phán vậy.
  “Hỡi dân Ít-ra-en, hãy sửa lại các bảng chỉ đường.
   Hãy dựng bảng để chỉ đường về nhà.
  Hãy canh chừng đường đi.
   Hãy nhớ lại lối ngươi ra đi.
  Hỡi dân Ít-ra-en, hãy trở về,
   Hãy trở về thị trấn quê quán ngươi.
  Ngươi là đứa con gái hư hỏng.
   Ngươi sẽ đi lang thang bao lâu nữa
   trước khi trở về nhà?
  Vì CHÚA đã làm một điều mới lạ trong xứ:
   Đàn bà đi tìm đàn ông.”
 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ làm những điều tốt lành cho dân Giu-đa lần nữa. Lúc đó dân trong xứ Giu-đa và các thị trấn sẽ lại dùng những lời nầy: ‘Nguyện CHÚA ban phước cho ngươi, là nơi ở và núi thánh tốt đẹp.’ Dân chúng sống trong các thành Giu-đa sẽ ở bình yên với nhau. Nông gia và dân du mục sẽ sống bình yên với nhau. Ta sẽ ban sự yên nghỉ và sức mạnh cho những kẻ yếu ớt và mệt mỏi.”
 Sau khi nghe như vậy, tôi, Giê-rê-mi, thức giấc và nhìn quanh quất. Giấc ngủ tôi rất ngon.
 CHÚA phán, “Ngươi phải biết rằng, sẽ đến ngày ta giúp các gia đình Ít-ra-en, Giu-đa cùng con cái và súc vật của chúng sinh sôi nẩy nở. Trước kia ta trông chừng Ít-ra-en và Giu-đa để nhổ lên và phá sập, để tiêu diệt và mang tai họa đến. Nhưng nay ta sẽ trông chừng chúng để xây lên và khiến chúng mạnh mẽ,” CHÚA phán vậy.
  Lúc đó người ta sẽ không còn nói:
  “Cha mẹ ăn trái nho chua mà con cháu phải buốt răng.”
 Nhưng mỗi người sẽ chết vì tội lỗi mình; ai ăn trái nho chua thì người đó bị buốt răng.

Giao ước mới

  CHÚA phán, “Nầy, sẽ đến lúc
   ta lập một giao ước mới
   với dân Ít-ra-en và dân Giu-đa.
  Không giống như giao ước ta đã lập
   với tổ tiên chúng khi ta dắt tay chúng ra khỏi Ai-cập.
  Lúc đó ta làm chồng chúng nó,
   nhưng chúng phá giao ước ấy,” CHÚA phán vậy.
  “Nhưng đây là giao ước ta sẽ lập
   với dân Ít-ra-en vào lúc đó,”
  CHÚA phán:
   “Ta sẽ để lời giáo huấn ta trong trí chúng,
   ghi tạc vào lòng chúng.
  Ta sẽ làm Thượng Đế chúng,
   và chúng sẽ làm dân ta.
  Người ta không cần phải dạy láng giềng
   hay thân nhân để biết CHÚA nữa,
  vì mọi người đều sẽ biết ta,
   từ người thấp kém nhất
   cho đến người sang trọng nhất,” CHÚA phán vậy.
  “Ta sẽ tha thứ chúng vì những điều ác chúng làm,
   ta sẽ không nhớ đến tội lỗi chúng nữa.”

Chúa sẽ không bao giờ
lìa bỏ Ít-ra-en

  CHÚA khiến mặt trời soi sáng ban ngày,
   mặt trăng và ngôi sao soi sáng ban đêm.
  Ngài khuấy động biển
   để các ngọn sóng đập vào bờ.
   Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
  CHÚA phán như sau:
  “Chỉ khi nào các luật thiên nhiên đó không hiệu nghiệm nữa,
   thì con cháu Ít-ra-en mới không còn là dân tộc trước mặt ta.” CHÚA phán vậy.
  CHÚA phán như sau:
  “Chỉ khi nào người ta có thể đo được bầu trời cao kia
   hay biết được những bí mật dưới đất nầy,
  thì ta mới gạt bỏ con cháu Ít-ra-en,
   về những điều chúng làm,” CHÚA phán vậy.

Giê-ru-sa-lem mới

 CHÚA phán, “Ngươi phải biết rằng, sẽ đến lúc Giê-ru-sa-lem được xây lại cho ta; tất cả mọi thứ từ tháp Ha-na-nên cho đến Cổng Góc. Dây đo sẽ giăng từ Cổng Góc thẳng cho đến đồi Ga-rép. Rồi sẽ xoay qua một nơi gọi là Gô-a. Toàn thung lũng nơi người ta ném các xác chết và tro, cùng toàn vùng đất cao cho đến thung lũng Kít-rôn về phía Đông cho đến góc của Cổng Ngựa, tất cả vùng đó sẽ hóa thánh cho CHÚA. Giê-ru-sa-lem sẽ không bao giờ bị phá sập hay tiêu hủy nữa.”



.....................................



Chương ba mươi hai.

Giê-rê-mi mua một thửa ruộng

 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi vào năm thứ mười khi vua Xê-đê-kia làm vua Giu-đa, tức năm thứ mười tám đời vua Nê-bu-cát-nết-xa. Lúc ấy đạo quân của vua Ba-by-lôn đang bao vây Giê-ru-sa-lem. Nhà tiên tri Giê-rê-mi bị giam trong sân của lính cận vệ, nơi cung vua Giu-đa. Xê-đê-kia, vua Giu-đa đã nhốt Giê-rê-mi ở đó. Xê-đê-kia hỏi, “Tại sao ngươi tiên tri như vậy?” Giê-rê-mi đã tuyên bố, CHÚA phán như sau: “Ta sắp trao thành Giê-ru-sa-lem cho vua Ba-by-lôn, người sẽ chiếm lấy nó. Xê-đê-kia vua Giu-đa sẽ không thoát khỏi tay quân Ba-by-lôn, nhưng chắc chắn sẽ bị giao vào tay vua Ba-by-lôn. Người sẽ nói với vua Ba-by-lôn mặt đối mặt, và nhìn tận mắt người. Vua sẽ đày Xê-đê-kia sang Ba-by-lôn, người sẽ ở đó cho đến khi ta xử tội người xong,” CHÚA phán vậy. “Nếu ngươi đánh lại người Ba-by-lôn, ngươi sẽ không thắng nổi đâu.”
 Trong khi Giê-rê-mi đang ở trong tù ông nói, “CHÚA phán cùng ta: Bà con ngươi là Ha-na-mên, con trai Sa-lum chú ngươi, sắp đến thăm ngươi. Ha-na-mên sẽ nói cùng ngươi, ‘Anh Giê-rê-mi à, anh là bà con gần nhất của tôi, cho nên anh hãy mua miếng ruộng của tôi gần thành A-na-thốt đi. Vì đó là quyền lợi và bổn phận của anh.’”
 Rồi mọi việc xảy ra y như CHÚA phán. Ha-na-nên, bà con tôi đến thăm tôi trong sân của toán cận vệ và bảo tôi, “Anh hãy mua miếng ruộng của tôi gần A-na-thốt trong xứ Bên-gia-min đi. Đó là quyền lợi và bổn phận của anh; anh phải mua và làm chủ nó.” Vì thế tôi biết đây là sứ điệp đến từ CHÚA.
 Tôi liền mua thửa ruộng ở A-na-thốt từ Ha-na-mên, bà con tôi, trả cho người bảy lượng bạc. Tôi ký giấy mua, đóng ấn và tìm mấy người chứng. Tôi cũng cân bạc trên cân. Rồi tôi lấy hai bản giấy chuyển nhượng quyền sở hữu, tức giấy đã được đóng ấn liệt kê những điều kiện và giới hạn của chủ quyền, còn giấy kia không đóng ấn. Tôi trao các giấy tờ đó cho Ba-rúc, con Nê-ria, cháu Ma-a-sê-gia. Ha-na-mên, bà con tôi, các nhân chứng ký giấy tờ ghi việc chuyển nhượng sở hữu chủ, và nhiều người Giu-đa ngồi trong sân của toán cận vệ thấy tôi trao giấy chuyển nhượng cho Ba-rúc.
 Trong khi mọi người đang chứng kiến, tôi bảo Ba-rúc rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy lấy hai bản chuyển nhượng sở hữu chủ, một bản đóng ấn, và một bản không đóng ấn, bỏ vào trong một hũ bằng đất để giữ được lâu. CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Trong tương lai dân ta sẽ lại mua sắm nhà cửa, ruộng nương, vườn nho trong xứ Ít-ra-en.”
 Sau khi tôi đã giao giấy chuyển nhượng cho Ba-rúc, con trai Nê-ria, thì tôi cầu nguyện cùng CHÚA rằng,
 Ôi, lạy CHÚA là Thượng Đế, Ngài đã tạo nên trời đất bằng quyền năng lớn lao của Ngài. Không có việc gì khó quá cho Ngài. Ngài tỏ lòng yêu thương và nhân từ cho hàng ngàn người, nhưng Ngài cũng mang trừng phạt đến cho con cháu vì tội lỗi của cha mẹ chúng. Lạy Thượng Đế cao cả và vĩ đại, danh Ngài là CHÚA Toàn Năng. Ngài dự liệu những việc lớn. Ngài biết hết mọi điều người ta làm, và thưởng cho họ tùy lối sống của họ và theo điều họ làm. Ngài làm nhiều phép lạ và những việc diệu kỳ trong xứ Ai-cập. Ngài vẫn còn làm những điều đó trong Ít-ra-en và trong các dân tộc khác cho đến hôm nay. Vì thế người ta biết đến Ngài. Ngài mang dân Ngài, tức dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập bằng những dấu kỳ, phép lạ, quyền năng lớn lao và sức mạnh Ngài. Ngài mang đến sự kinh hoàng cho mọi người. Ngài cho họ xứ nầy mà Ngài đã hứa cho tổ tiên họ từ trước, một vùng đất phì nhiêu. Họ đến trong xứ nầy và nhận nó làm sản nghiệp nhưng họ không vâng lời Ngài và đi theo lời giáo huấn Ngài. Họ không làm theo mọi điều Ngài truyền dặn. Cho nên Ngài khiến những điều kinh khiếp nầy xảy ra cho họ.
 “Kìa, kẻ thù đã bao vây thành phố và đắp đường lên đến chóp vách để chiếm nó. Vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thành sẽ bị trao cho người Ba-by-lôn đang bao vây nó. Ngài bảo trước là những điều nầy sẽ xảy ra, bây giờ Ngài nhìn thấy nó đang xảy ra. Nhưng lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài bảo tôi, ‘Hãy dùng bạc mua miếng ruộng và gọi các nhân chứng đến.’ Ngài bảo tôi như thế nầy trong khi quân Ba-by-lôn sắp sửa chiếm thành.”
 Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi rằng: “Ta là CHÚA, Thượng Đế của mọi người trên đất. Không việc gì ta không làm được. Cho nên CHÚA phán: Ta sẽ trao thành Giê-ru-sa-lem vào tay quân Ba-by-lôn và Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm lấy thành. Quân Ba-by-lôn đang tấn công thành Giê-ru-sa-lem. Họ sắp vào thành và sẽ phóng hỏa đốt rụi thành phố luôn cả nhà cửa trong đó mà dân chúng Giê-ru-sa-lem đã dâng của lễ cho Ba-anh trên mái và đổ các của lễ uống cho các thần tượng khác để chọc giận ta. Từ khi còn trẻ, dân Ít-ra-en và Giu-đa đã làm những điều sái bậy. Chúng đã chọc giận ta bằng cách bái lạy các thần tượng do chính tay mình làm ra,” CHÚA phán vậy. “Từ ngày Giê-ru-sa-lem được xây cất cho đến nay, thành nầy đã chọc giận ta, đến nỗi ta muốn dẹp nó đi khỏi mắt ta. Ta sẽ tiêu hủy nó vì những điều ác dân Ít-ra-en và Giu-đa làm. Dân chúng, vua, các viên chức, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, toàn dân Giu-đa và dân Ít-ra-en đã chọc giận ta. Chúng đã xây lưng lại cùng ta, mà không xây mặt. Bao lần ta muốn dạy chúng nó nhưng chúng nó không nghe, cũng không chịu học. Chúng đã đặt những thần tượng gớm ghiếc ở nơi ta đã chọn để thờ phụng, khiến cho nơi ấy nhơ nhớp. Trong thung lũng Bên-Hin-nôm chúng đã xây những nơi thờ lạy Ba-anh để thiêu con trai con gái mình cho thần Mô-léc. Ta không bao giờ bảo chúng làm những điều gớm ghiếc như thế. Ta không bao giờ tưởng tượng nổi rằng chúng sẽ làm việc gớm ghiếc như vậy để khiến Giu-đa phạm tội.”
 Ngươi nói rằng, “Vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thành sẽ bị trao vào tay vua Ba-by-lôn.” Nhưng CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau về Giê-ru-sa-lem: “Ta đuổi dân Ít-ra-en và Giu-đa ra khỏi xứ chúng vì ta nổi giận cùng chúng. Nhưng ngươi phải biết rằng ta sẽ sớm gom chúng lại từ mọi xứ mà ta đã đày chúng đến và mang chúng về lại tại xứ nầy để chúng sống bình yên. Dân Ít-ra-en và Giu-đa sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Thượng Đế chúng. Ta sẽ khiến chúng mong muốn trở thành một dân tộc đoàn kết. Chúng sẽ thật lòng muốn thờ lạy ta suốt đời vì ích lợi cho chúng và cho con cháu chúng.
 Ta sẽ lập giao ước với chúng, giao ước đó sẽ còn đời đời. Ta sẽ không bao giờ quay mặt khỏi chúng; ta sẽ luôn luôn làm lợi cho chúng. Ta sẽ khiến chúng kính sợ ta thật lòng và không bao giờ xây bỏ ta. Ta sẽ vui thích mà làm lợi cho chúng. Ta sẽ hết lòng trồng chúng lại trong xứ nầy và khiến chúng mọc lên.”
 Vì CHÚA phán như sau: “Ta đã mang đại họa đến cho dân Ít-ra-en và Giu-đa. Cũng vậy ta sẽ mang những điều tốt lành mà ta đã hứa đến cho chúng. Các ngươi nói, ‘Đất nầy là sa mạc hoang vu, không người hay súc vật nào ở. Nó đã được trao cho người Ba-by-lôn.’ Nhưng trong tương lai, dân chúng sẽ lại mua ruộng trong xứ nầy. Họ sẽ dùng tiền để mua ruộng. Họ sẽ ký tên và đóng ấn các khế ước và gọi nhân chứng. Họ sẽ lại mua ruộng nương trong xứ Bên-gia-min, vùng quanh Giê-ru-sa-lem, các thành của Giu-đa và trong vùng núi, vùng đồi phía Tây và vùng Nam Giu-đa. Ta sẽ khiến mọi vật trở lại tốt đẹp cho chúng như xưa,” CHÚA phán vậy.

.........................................



Chương ba mươi ba.

Lời hứa của Chúa

 Trong khi Giê-rê-mi đang bị giam trong sân của toán lính cận vệ thì CHÚA phán cùng ông lần thứ hai: Đây là lời CHÚA, Đấng dựng nên đất, uốn nắn nó, ban trật tự cho nó, danh Ngài là CHÚA: “Hỡi Giu-đa hãy cầu nguyện cùng ta, ta sẽ trả lời cho các ngươi. Ta sẽ cho ngươi biết những điều bí ẩn mà ngươi chưa hề nghe. Đây là điều CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán về các nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem và các cung điện vua ở Giu-đa: Kẻ thù sẽ phá sập các nhà cửa ấy. Chúng sẽ đắp mô lên đến tận chóp của vách thành. Chúng sẽ dùng gươm đánh giết mọi người trong thành. Dân cư Giê-ru-sa-lem đã làm nhiều điều ác. Ta nổi giận và nghịch cùng chúng cho nên ta sẽ đánh giết chúng. Người Ba-by-lôn sẽ đến tấn công Giê-ru-sa-lem. Thành phố sẽ đầy thây chết.
 Nhưng rồi ta sẽ mang sức khoẻ và chữa lành cho dân chúng ở đó. Ta sẽ chữa lành và cho chúng vui hưởng thái bình an ninh. Ta sẽ mang Giu-đa và Ít-ra-en trở về từ chốn lưu đày và làm cho xứ sở chúng hùng cường như trước. Chúng nó đã phạm tội cùng ta nhưng ta sẽ xóa tội lỗi đó. Chúng đã làm điều ác và quay khỏi ta nhưng ta sẽ tha thứ chúng. Rồi Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một tên mang niềm vui trước mặt ta! Dân cư khắp các nước trên đất sẽ ca ngợi nó khi họ nghe những điều tốt lành ta làm cho nó. Họ sẽ sợ hãi và run rẩy về những điều tốt lành và về nền hòa bình ta mang đến cho Giê-ru-sa-lem.
 Các ngươi nói, ‘Xứ chúng tôi là một sa mạc hoang vu, không bóng người hay sinh vật.’ Nhưng CHÚA phán như sau: Đường phố Giê-ru-sa-lem và các thị trấn Giu-đa hiện nay im vắng, không bóng người hay súc vật, nhưng ít lâu nữa sẽ huyên náo! Sẽ có tiếng reo vui, tiếng của cô dâu chú rể vui mừng hớn hở. Sẽ có tiếng người mang của lễ cảm tạ CHÚA vào trong đền thờ Ngài. Họ sẽ nói, ‘Chúc tụng CHÚA Toàn Năng, vì Ngài nhân từ! Tình yêu Ngài còn đến đời đời!’
 Họ sẽ nói như thế vì ta sẽ làm những điều tốt đẹp cho Giu-đa như lúc ban đầu,” CHÚA phán vậy.
 CHÚA Toàn Năng phán: “Nơi nầy hiện hoang vu, không bóng người hay súc vật nhưng sẽ có người chăn chiên trong tất cả các thị trấn Giu-đa và các đồng cỏ, nơi họ để cho bầy chiên mình nghỉ ngơi. Các kẻ chăn chiên sẽ lại đếm các chiên mình khi chúng đi qua trước mặt họ. Họ sẽ đếm chúng nó trong núi, trong các đồi phía Tây, vùng miền Nam Giu-đa và xứ Bên-gia-min, quanh Giê-ru-sa-lem và các thành khác của Giu-đa!” CHÚA phán vậy.

Một nhánh tốt

 CHÚA phán, “Sẽ đến lúc ta làm những điều tốt lành mà ta đã hứa cùng dân Ít-ra-en và Giu-đa. Trong những ngày và thời kỳ đó ta sẽ khiến một nhánh tốt mọc ra từ nhà Đa-vít. Người sẽ làm điều công bình và phải lẽ trong xứ. Lúc ấy Giu-đa sẽ được cứu, và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ sống an ninh. Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là: CHÚA ban sự công chính cho chúng ta.”
 CHÚA phán: “Từ gia đình Đa-vít sẽ luôn luôn có người ngồi trên ngôi của gia đình Ít-ra-en. Lúc nào cũng sẽ có thầy tế lễ từ gia đình Lê-vi. Họ sẽ luôn luôn đứng trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, của lễ chay cùng sinh tế cho ta.”
 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau: “CHÚA phán: Ta đã lập giao ước với ngày và đêm để chúng luôn luôn đến đúng kỳ. Nếu ngươi muốn thay đổi giao ước đó thì chỉ khi nào ngươi thay đổi giao ước của ta với Đa-vít và Lê-vi mới được. Chỉ lúc đó thì Đa-vít, tôi tớ ta mới không có người ngồi trên ngôi vua. Và cũng chỉ lúc đó thì gia đình Lê-vi mới không có người làm thầy tế lễ phục vụ ta trong đền thờ. Nhưng ta sẽ ban nhiều con cháu cho Đa-vít, tôi tớ ta và cho dòng họ Lê-vi là những người sẽ phục vụ ta trong đền thờ. Chúng sẽ đông như sao trên trời như cát bãi biển, không ai đếm được.”
 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau: “Nầy Giê-rê-mi, ngươi có nghe dân chúng nói không? Chúng nói: ‘CHÚA đã quay mặt khỏi hai gia đình Ít-ra-en và Giu-đa mà Ngài đã chọn lựa.’ Chúng khinh dể dân ta và không xem họ là một quốc gia nữa!”
 CHÚA phán: “Chỉ khi nào ta không còn giao ước với ngày và đêm, và chỉ khi nào không lập ra luật cho trời và đất, thì lúc đó ta mới quay mặt khỏi con cháu Gia-cốp. Và chỉ lúc đó ta mới không để cho con cháu của tôi tớ ta là Đa-vít trị vì con cháu Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Nhưng vì Đa-vít, kẻ tôi tớ ta cho nên ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng chúng và ban phúc lành cho chúng.”

...............................

Chương ba mươi bốn.

Lời cảnh cáo Xê-đê-kia

 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi trong khi Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang đánh Giê-ru-sa-lem và các thị trấn quanh đó. Nê-bu-cát-nết-xa mang toàn quân lực mình và quân lực của các quốc gia và dân tộc dưới quyền thống trị của mình.
 CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Giê-rê-mi, ngươi hãy đi đến cùng Xê-đê-kia, vua Giu-đa và nói với người như sau: Ta sắp trao thành Giê-ru-sa-lem cho vua Ba-by-lôn. Người sẽ đốt nó cháy rụi! Ngươi sẽ không thoát khỏi tay vua Ba-by-lôn; ngươi chắc chắn sẽ bị bắt và trao vào tay người. Ngươi sẽ nhìn thấy vua Ba-by-lôn tận mắt, và người sẽ nói chuyện với ngươi, mặt đối mặt. Ngươi sẽ bị đày sang Ba-by-lôn. Nhưng hỡi Xê-đê-kia, vua Giu-đa, hãy nghe lời hứa của CHÚA. Ngài phán như sau về ngươi: Ngươi sẽ không bị gươm giết. Ngươi sẽ chết bình yên. Dân chúng đã đốt lửa mai táng để tôn kính các tổ tiên ngươi là các vua đã trị vì trước ngươi thể nào thì họ cũng sẽ đốt lửa mai táng để tôn kính ngươi như vậy. Họ sẽ than khóc ngươi và buồn bã kêu lên, ‘Ôi, chủ ơi!’ Chính ta hứa với ngươi như thế, CHÚA phán vậy.”
 Nên nhà tiên tri Giê-rê-mi thuật lại những lời đó cho Xê-đê-kia ở Giê-ru-sa-lem. Trong khi đó đạo quân của vua Ba-by-lôn đang tiến đánh Giê-ru-sa-lem và các thành Giu-đa chưa bị thất thủ như La-ki và A-xê-ka. Đó là các thành có vách kiên cố còn lại trong xứ Giu-đa.

Dân chúng phá bỏ giao ước

 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi vua Xê-đê-kia lập ước cùng toàn dân cư Giê-ru-sa-lem để giải phóng tất cả tôi mọi người Hê-bơ-rơ. Ai cũng phải phóng thích các tôi mọi người Hê-bơ-rơ của mình, không phân biệt nam nữ. Không ai được phép giữ đồng bào Do-thái mình làm tôi mọi nữa. Tất cả các viên chức và dân chúng chấp thuận giao ước nầy; họ đồng ý phóng thích các nô lệ nam và nữ, không giữ họ làm tôi mọi nữa. Vì thế tất cả các tôi mọi đều được phóng thích. Nhưng sau đó một số người vốn có tôi mọi đổi ý. Họ bắt lại những người đã được họ trả tự do và bắt làm tôi mọi trở lại.
 Sau đó CHÚA phán như sau cho Giê-rê-mi: “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta mang tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập nơi chúng làm nô lệ. Và ta lập giao ước với chúng. Ta nói cùng tổ tiên các ngươi: ‘Cuối mỗi bảy năm, mọi người trong các ngươi phải trả tự do cho các nô lệ người Hê-bơ-rơ của mình. Nếu một đồng bào Hê-bơ-rơ đã bán mình cho ngươi, ngươi phải phóng thích nó sau khi nó đã phục vụ ngươi sáu năm.’ Nhưng tổ tiên các ngươi không nghe cũng không để ý đến ta. Trước đây ít lâu các ngươi thay đổi lòng và làm điều thiện. Mỗi người trong các ngươi trả tự do cho đồng bào Hê-bơ-rơ của mình là những nô lệ. Các ngươi cũng đã lập ước trước mặt ta tại nơi ta đã chọn để thờ phụng ta. Nhưng nay các ngươi đổi ý. Các ngươi chứng tỏ không tôn kính ta. Ai nấy đều bắt lại các nô lệ nam và nữ mà các ngươi đã trả tự do, buộc họ làm nô lệ cho các ngươi trở lại.”
 Vì thế CHÚA phán: Các ngươi không vâng lời ta. Các ngươi không trả tự do cho đồng bào Hê-bơ-rơ, cùng thân nhân và bạn hữu mình. CHÚA phán, bây giờ ta sẽ cho chiến tranh, dịch lệ và đói kém tha hồ tự do hoành hành. Ta sẽ khiến cho các ngươi bị tất cả các quốc gia trên thế giới ghét bỏ. Ta sẽ trao cho kẻ thù những người phá giao ước ta, không giữ lời hứa cùng ta. Chúng đã xẻ đôi con bê trước mặt ta và đi qua giữa hai phần đó. Những người sau đây đã lập giao ước trước mặt ta bằng cách đi qua giữa hai phần của con bê bị xẻ: các lãnh tụ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các quần thần, các thầy tế lễ, và toàn dân trong xứ. Cho nên ta sẽ trao chúng nó cho kẻ thù và bất cứ những ai muốn giết chúng nó. Thây chúng nó sẽ làm thức ăn cho chim trời và dã thú trên đất. Ta sẽ trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa và các quần thần người cho kẻ thù chúng nó, và cho những ai muốn giết chúng nó, cho đạo quân của vua Ba-by-lôn, cho dù họ đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem. CHÚA phán, “ngươi phải biết rằng ta sẽ ra lệnh cho đạo quân Ba-by-lôn trở lại Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ tấn công Giê-ru-sa-lem, chiếm nó, phóng hỏa, và thiêu rụi nó. Ta sẽ tiêu diệt các thị trấn trong Giu-đa để chúng trở thành điêu tàn không ai ở!”

................................

Chương ba mươi lăm.

Gia đình Rê-cáp vâng lời Thượng Đế

 Đang khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa thì CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau: “Hãy đi đến gia đình Rê-cáp. Mời họ vào trong một căn phòng kế bên đền thờ CHÚA, và mời họ uống rượu.”
 Cho nên tôi đi kiếm Gia-a-xa-nia, con Giê-rê-mi, cháu Ha-ba-xi-nia. Tôi họp tất cả anh em của Gia-a-xa-nia, các con trai và toàn thể gia đình Rê-cáp lại. Tôi đưa họ vào trong đền thờ CHÚA. Chúng tôi đi vào phòng của các con trai Ha-nan, con Ích-đa-lia, là người của Thượng Đế. Phòng đó kế cận phòng các viên chức cư ngụ và ở phía trên phòng Ma-a-sê-gia, con Sa-lum, người giữ cửa đền thờ. Rồi tôi để một số chén bát đầy rượu và một số ly trước mặt các người trong gia đình Rê-cáp. Tôi bảo họ, “Các anh dùng chút rượu đi.”
 Nhưng những người Rê-cáp đáp, “Chúng tôi không bao giờ uống rượu. Tổ tiên chúng tôi là Giô-na-đáp, con Rê-cáp, đã dặn chúng tôi như sau: ‘Ngươi và con cháu các ngươi không bao giờ được uống rượu. Ngoài ra các ngươi cũng không được cất nhà, gieo giống, trồng vườn nho hay làm những gì tương tự. Các ngươi chỉ được ở trong lều. Như thế các ngươi sẽ sống lâu trong đất mà các ngươi làm dân tạm cư.’ Vì thế chúng tôi là những người Rê-cáp vâng theo những gì Giô-na-đáp, tổ tiên chúng tôi đã dặn. Chúng tôi, vợ, con trai con gái chúng tôi không bao giờ uống rượu. Chúng tôi chưa bao giờ xây nhà để ở, mua sắm ruộng nương, vườn nho hay trồng trọt hoa màu. Chúng tôi sống trong lều và vâng theo tất cả những gì tổ tiên chúng tôi là Giô-na-đáp truyền dặn. Nhưng khi Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn tấn công Giu-đa thì chúng tôi bảo nhau, ‘Nầy, chúng ta phải vào Giê-ru-sa-lem để thoát khỏi quân Ba-by-lôn và quân A-ram.’ Vì vậy chúng tôi đã ở lại Giê-ru-sa-lem.”
 Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi: CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Giê-rê-mi, hãy đi bảo người Giu-đa và toàn dân cư Giê-ru-sa-lem như sau: ‘Các ngươi nên học một bài học và vâng lời ta,’” CHÚA phán. “Giô-na-đáp, con Rê-cáp truyền dặn con cháu mình đừng uống rượu thì chúng nó vâng theo. Cho đến ngày nay chúng vẫn vâng theo mệnh lệnh của tổ tiên mình và không uống rượu. Nhưng ta là CHÚA đã phán dặn các ngươi nhiều lần nhưng các ngươi vẫn không vâng lời ta. Ta đã sai các tôi tớ ta là các nhà tiên tri nhiều lần đến cùng các ngươi và bảo, ‘Mỗi người các ngươi phải thôi làm điều ác. Các ngươi phải thay đổi để trở nên tốt hơn. Đừng đi theo các thần khác mà phục vụ chúng. Nếu các ngươi vâng lời ta thì các ngươi sẽ được sống trong xứ mà ta đã ban cho các ngươi và tổ tiên các ngươi.’ Còn các ngươi chẳng thèm nghe ta, cũng không vâng lời ta. Thật thế, con cháu Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp vâng theo mệnh lệnh tổ tiên chúng truyền cho nhưng dân Giu-đa chẳng vâng lời ta.”
 “Cho nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Hãy chú ý, ta sắp mang mọi thảm họa mà ta đã tuyên bố đến trên Giu-đa và cho mọi người sống trong Giê-ru-sa-lem. Ta bảo chúng nhưng chúng chẳng thèm nghe. Ta kêu chúng, nhưng chúng không trả lời.’”
 Rồi Giê-rê-mi nói cùng con cháu Rê-cáp rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Các ngươi đã vâng theo lời dặn của tổ tiên mình là Giô-na-đáp và tuân theo mọi lời giáo huấn của người; các ngươi đã làm theo mọi điều người dặn biểu.’ Cho nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Lúc nào cũng sẽ có người thuộc con cháu của Giô-na-đáp, con Rê-cáp phục vụ ta.

...........................

Chương ba mươi sáu.

Giê-hô-gia-kim đốt cuộn sách
của Giê-rê-mi

 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi trong năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa: “Hãy lấy một cuộn giấy rồi viết trên đó những lời ta đã bảo ngươi về Ít-ra-en, Giu-đa và về tất cả các dân tộc. Hãy ghi lại mọi điều từ khi ta bắt đầu phán cùng ngươi, khi Giô-xia mới lên ngôi, cho đến bây giờ. May ra gia đình Giu-đa sẽ nghe những thảm họa ta dự định mang đến cho chúng để chúng thôi làm ác chăng. Như thế ta sẽ tha thứ những tội lỗi và điều ác mà chúng đã làm.”
 Vậy Giê-rê-mi gọi Ba-rúc, con Nê-ria. Giê-rê-mi nói những lời CHÚA đã phán dặn ông, rồi Ba-rúc ghi lại vào cuộn giấy. Sau đó Giê-rê-mi bảo Ba-rúc, “Ta bị cản trở, không thể đi vào đền thờ CHÚA được. Ta phải ở lại đây. Cho nên ta muốn ngươi đi vào đền thờ CHÚA vào ngày mà dân chúng cữ ăn. Đọc những lời trong cuộn sách cho dân Giu-đa từ các thị trấn đến Giê-ru-sa-lem. Hãy đọc những lời của CHÚA, là những lời ngươi viết trên cuộn giấy mà ta đã đọc cho ngươi. Có thể họ sẽ cầu xin CHÚA giúp mình. Có thể mọi người sẽ thôi làm điều ác vì CHÚA đã tuyên bố Ngài rất tức giận họ.” Vậy Ba-rúc, con Nê-ria làm mọi điều nhà tiên tri Giê-rê-mi dặn bảo. Ông đọc lớn những lời của CHÚA ghi trong cuộn giấy trong đền thờ CHÚA.
 Vào tháng chín năm thứ năm đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua, thì người ta loan báo một thời kỳ đặc biệt cữ ăn. Tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem và mọi người từ các thị trấn Giu-đa đến Giê-ru-sa-lem đều cữ ăn để tôn kính CHÚA. Lúc đó Ba-rúc đọc cho mọi người ở đó nghe những lời của Giê-rê-mi trong cuộn sách. Ông đọc cuộn sách nơi đền thờ CHÚA trong phòng của Ghê-ma-ria, con Sa-phan, một bí thư hoàng gia. Phòng đó nằm trên sân ngay lối vào Cổng Mới của đền thờ.
 Mi-cai-gia, con Ghê-ma-ria, cháu Sa-phan nghe những lời của CHÚA ghi trong cuộn sách. Mi-cai-gia đi xuống phòng của bí thư hoàng gia trong cung vua nơi tất cả các viên chức đang ngồi: Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia; Đê-lai-gia, con Sê-mai-gia; Ên-na-than, con Ác-bo; Ghê-ma-ria, con Sa-phan; Xê-đê-kia con Ha-na-nia; và tất cả các viên chức khác. Mi-cai-gia thuật lại cho họ nghe mọi điều anh đã nghe Ba-rúc đọc cho dân chúng từ trong cuộn sách.
 Các viên chức đó liền sai một người tên Giê-hu-đi, con Nê-tha-nia đến cùng Ba-rúc. Nê-tha-nia là con Sê-lê-mia, cháu Cu-si. Giê-hu-đi bảo Ba-rúc, “Hãy mang cuộn sách mà anh đã đọc cho dân chúng rồi đi theo tôi.”
 Vậy Ba-rúc, con Nê-ria cầm cuộn sách đi theo Giê-hu-đi đến gặp các viên chức.
 Các viên chức bảo Ba-rúc, “Mời anh ngồi xuống và đọc cuộn sách cho chúng tôi nghe.”
 Vậy Ba-rúc đọc sách đó cho họ nghe.
 Sau khi các viên chức nghe tất cả lời trong sách thì họ đâm hoảng và nhìn nhau. Họ nói với Ba-rúc, “Chúng ta chắc chắn phải cho vua biết những lời nầy.” Rồi các viên chức hỏi Ba-rúc, “Anh làm ơn cho chúng tôi biết, anh lấy những lời ghi trong sách nầy ở đâu? Có phải anh viết lại những gì Giê-rê-mi bảo anh không?”
 Ba-rúc đáp, “Phải. Giê-rê-mi đã đọc tất cả những lời nầy cho tôi, và tôi dùng mực ghi xuống trong cuộn sách nầy.”
 Các viên chức liền bảo Ba-rúc, “Anh và Giê-rê-mi nên đi trốn, đừng cho ai biết mình ở đâu.”
 Các viên chức để cuộn sách trong phòng của Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia. Rồi họ đi vào gặp vua trong sân và thuật cho vua về cuộn sách. Vua Giê-hô-gia-kim liền sai Giê-hu-đi đi lấy cuộn sách. Giê-hu-đi mang cuộn sách từ phòng Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia, rồi đọc sách ấy cho vua và quần thần đang đứng quanh vua. Lúc đó là tháng chín trong năm, nên vua Giê-hô-gia-kim đang ngồi trong căn gác mùa đông. Một chậu nhỏ có lửa đang cháy để sưởi ấm trước mặt vua. Sau khi Giê-hu-đi đọc được ba hay bốn cột trong sách thì vua lấy dao nhỏ cắt các cột đó khỏi cuộn giấy và ném vào chậu lửa. Cuối cùng nguyên cả cuộn giấy bị đốt tiêu trong lửa. Vua Giê-hô-gia-kim và các tôi tớ nghe đầy đủ mọi lời nhưng không tỏ dấu lo sợ! Họ không xé áo quần để tỏ dấu buồn rầu. Ngay cả khi Ên-na-than, Đê-lai-gia, và Ghê-ma-ria tìm cách khuyên vua Giê-hô-gia-kim đừng đốt cuộn sách nhưng vua vẫn không nghe. Ngược lại, vua ra lệnh cho Giê-ra-min, con trai vua, Sê-rai-gia, con A-ri-ên, và Sê-lê-mia, con Áp-đin lùng bắt thư ký Ba-rúc và nhà tiên tri Giê-rê-mi. Nhưng CHÚA giấu họ.
 Vậy vua Giê-hô-gia-kim đốt cuộn sách mà Ba-rúc đã ghi lại những lời Giê-rê-mi nói cùng mình. Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi: “Hãy lấy một cuộn khác và ghi lại những gì trong cuộn sách đầu tiên mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa đã đốt. Ngoài ra cũng bảo Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa như sau: CHÚA phán: Ngươi đã đốt cuộn sách và nói, ‘Hỡi Giê-rê-mi, tại sao ngươi viết trong đó là vua Ba-by-lôn chắc chắn sẽ đến và tiêu hủy xứ nầy cùng người và súc vật trong đó?’” Cho nên CHÚA phán như sau về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa: “Con cháu Giê-hô-gia-kim sẽ không được ngồi trên ngôi Đa-vít. Khi Giê-hô-gia-kim qua đời, xác người sẽ bị quăng xuống đất. Nó sẽ bị phơi nắng nóng ban ngày và sương muối lạnh ban đêm. Ta sẽ trừng phạt Giê-hô-gia-kim, con cái và tôi tớ người, vì chúng đã làm ác. Ta sẽ giáng thảm họa trên chúng và toàn thể dân Giê-ru-sa-lem và Giu-đa tất cả những gì ta đã nói mà chúng không thèm nghe.”
 Vậy Giê-rê-mi lấy một cuộn sách khác đưa cho Ba-rúc, con Nê-ria, thư ký của ông. Trong khi Giê-rê-mi đọc thì Ba-rúc ghi lại trên cuộn sách những lời trên cuộn sách đầu tiên mà vua Giê-hô-gia-kim đã thiêu trong lửa. Trong cuộn thứ hai có thêm nhiều lời tương tự.

.........



Chương ba mươi bảy.

Giê-rê-mi bị tù

 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã chỉ định Xê-đê-kia, con Giô-xia làm vua Giu-đa. Xê-đê-kia thay thế Giê-hô-gia-kin, con trai Giê-hô-gia-kim. Nhưng Xê-đê-kia, các đầy tớ ông và dân Giu-đa không nghe lời CHÚA phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
 Lúc ấy vua Xê-đê-kia sai Giê-hu-can, con Sê-lê-mia, và thầy tế lễ Xô-phô-ni, con Ma-a-sê-gia, nhắn với nhà tiên tri Giê-rê-mi như sau: “Giê-rê-mi ơi, xin ông hãy cầu nguyện cùng CHÚA là Thượng Đế cho chúng tôi.”
 Lúc đó Giê-rê-mi chưa bị bỏ tù. Cho nên ông được tự do đi lại. Đạo quân của vua Ai-cập đã kéo lên từ Ai-cập tiến về phía Giu-đa. Lúc đó đạo quân Ba-by-lôn đã vây thành Giê-ru-sa-lem. Khi chúng nghe quân Ai-cập đang tiến về phía chúng thì liền bỏ đi khỏi Giê-ru-sa-lem.
 CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi rằng: “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hỡi Giê-hu-canh và Xô-phô-ni, ta biết Xê-đê-kia, vua Giu-đa sai các ngươi đến cầu xin ta giúp đỡ. Hãy bảo vua Xê-đê-kia như sau: ‘Hãy nghe kỹ đây: Đạo quân của vua Ai-cập kéo đến giúp ngươi nhưng chúng sẽ trở về Ai-cập. Sau đó, đạo quân Ba-by-lôn sẽ trở lại tấn công Giê-ru-sa-lem, chiếm nó và thiêu rụi nó.’”
 CHÚA phán: “Hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem, chớ tự gạt mình. Đừng nói, ‘Quân Ba-by-lôn sẽ để chúng ta yên.’ Không đâu! Dù cho các ngươi đánh bại toàn đạo quân Ba-by-lôn đang tấn công các ngươi đến nỗi chỉ còn một số người bị thương còn sót lại trong lều, chúng sẽ từ lều mình đến và đốt tiêu Giê-ru-sa-lem!”
 Vậy quân Ba-by-lôn bỏ Giê-ru-sa-lem để đánh quân của vua Ai-cập. Lúc đó Giê-rê-mi tìm cách đi từ Giê-ru-sa-lem xuống xứ Bên-gia-min để nhận phần gia tài của mình. Khi ông đến Cổng Bên-gia-min ở Giê-ru-sa-lem, thì viên sĩ quan chỉ huy toán cận vệ bắt giữ ông. Tên viên sĩ quan đó là Y-ri-gia, con Sê-lê-mia, cháu Ha-na-nia. Y-ri-gia nói, “Anh định bỏ chúng tôi để theo quân Ba-by-lôn phải không?”
 Nhưng Giê-rê-mi bảo Y-ri-gia, “Không phải! Tôi không theo phe quân Ba-by-lôn.” Y-ri-gia không nghe Giê-rê-mi, nên bắt ông và giải đến các viên chức của Giê-ru-sa-lem. Các viên quan đó rất bất bình với Giê-rê-mi và đánh đập ông. Rồi họ nhốt ông trong nhà của Giô-na-than, bí thư hoàng gia, nhà đó đã biến thành nhà tù. Vậy họ nhốt ông trong ngục tối. Giê-rê-mi bị giam trong đó lâu ngày.
 Sau đó vua Xê-đê-kia cho giải Giê-rê-mi đến cung vua. Xê-đê-kia hỏi riêng ông, “Có lời gì từ CHÚA không?”
 Giê-rê-mi đáp, “Thưa vua Xê-đê-kia, có. Vua sẽ bị trao vào tay vua Ba-by-lôn.” Rồi Giê-rê-mi hỏi vua Xê-đê-kia, “Tôi đã làm điều gì phạm pháp nghịch vua, các quần thần hay dân cư Giê-ru-sa-lem? Tại sao vua tống giam tôi vào ngục? Còn các nhà tiên tri đã nói tiên tri như sau về vua: ‘Vua Ba-by-lôn sẽ không tấn công vua hay đất Giu-đa nầy’ đâu rồi? Nhưng bây giờ, thưa vua và chúa tôi, xin hãy nghe tôi, và làm theo điều tôi van xin. Xin đừng gởi tôi về nhà Giô-na-than, bí thư hoàng gia, nếu không tôi sẽ bỏ xác ở đó!”
 Vậy vua Xê-đê-kia ra lệnh canh giữ Giê-rê-mi trong sân của toán cận vệ, mỗi ngày được cấp bánh từ phố của thợ làm bánh cho đến khi trong thành không còn bánh nữa. Vậy Giê-rê-mi bị canh giữ trong sân của toán cận vệ.

...........................



Chương ba mươi tám.

Giê-rê-mi bị quăng xuống giếng

 Sê-pha-tia, con Mát-tan, Ghê-đa-lia, con Ba-sua, Giê-hu-can, con Sê-lê-mia, và Ba-sua, con Manh-ki-gia nghe rằng Giê-rê-mi đã bảo toàn thể dân chúng: CHÚA phán như sau: “Ai ở lại Giê-ru-sa-lem sẽ chết vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ. Nhưng ai đầu hàng quân Ba-by-lôn sẽ sống. Họ sẽ thoát và được bảo toàn mạng sống như nhận được chiến lợi phẩm.” Và CHÚA phán như sau: “Thành Giê-ru-sa-lem nầy chắc chắn sẽ bị trao vào quân của vua Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm lấy thành nầy!”
 Sau đó các quần thần đề nghị với vua, “Phải xử tử Giê-rê-mi! Nó làm nản lòng quân sĩ đang ở trong thành và toàn dân bằng những lời tuyên bố mình. Nó chẳng muốn điều tốt cho chúng ta mà chỉ muốn hủy hoại chúng ta thôi.”
 Vua Xê-đê-kia bảo họ, “Nầy ông ta ở trong tay các ngươi. Ta không làm gì cản các ngươi đâu.”
 Vậy các viên chức bắt Giê-rê-mi quăng xuống giếng của Manh-ki-gia, con trai vua, nằm trong sân của toán cận vệ. Họ dùng dây thừng thả Giê-rê-mi xuống giếng. Giếng không có nước, chỉ có bùn nên Giê-rê-mi lún xuống bùn.
 Nhưng có Ê-bết Mê-léc, người Cút và là một tôi tớ trong cung điện, nghe các viên chức đã thả Giê-rê-mi xuống giếng. Trong khi vua Xê-đê-kia đang ngồi nơi cổng Bên-gia-min, thì Ê-bết Mê-léc rời cung đi đến gặp vua. Ê-bết Mê-léc thưa cùng vua rằng, “Thưa chúa và vua tôi ơi, các viên quan nầy hành động ác độc lắm. Họ đối xử với nhà tiên tri thật tệ bạc. Họ đã quăng ông vào giếng để ông chết trong đó! Khi trong thành không còn bánh nữa, ông ta cũng sẽ chết đói thôi.”
 Vua Xê-đê-kia liền ra lệnh cho Ê-bết Mê-léc người Cút, “Đem ba mươi người từ cung vua để kéo nhà tiên tri Giê-rê-mi ra khỏi giếng trước khi người chết.”
 Vậy Ê-bết Mê-léc mang những người đó cùng với mình vào phòng ngay dưới kho trong cung vua lấy giẻ và áo quần cũ. Rồi dùng dây thừng thòng các thứ đó xuống giếng cho Giê-rê-mi. Ê-bết Mê-léc người Cút bảo Giê-rê-mi, “Ông hãy quấn các áo quần và giẻ cũ quanh nách để làm đệm cho dây thừng.” Giê-rê-mi làm theo như vậy. Rồi họ kéo ông lên theo dây thừng và mang ông ra khỏi giếng. Giê-rê-mi bị giam trong sân của toán cận vệ.

Xê-đê-kia chất vấn Giê-rê-mi

 Sau đó vua Xê-đê-kia cho người giải Giê-rê-mi đến trước mặt mình nơi cổng thứ ba của đền thờ CHÚA. Vua bảo Giê-rê-mi, “Ta muốn hỏi ngươi một điều. Ngươi không được giấu ta điều gì, phải nói thật.”
 Giê-rê-mi thưa, “Nếu tôi nói cho vua câu trả lời, chắc chắn vua sẽ giết tôi. Còn nếu tôi khuyên vua thì vua cũng không thèm nghe.”
 Vua Xê-đê-kia hứa kín cùng Giê-rê-mi, “Ta lấy danh CHÚA hằng sống là Đấng ban cho chúng ta hơi thở và sự sống mà thề rằng ta sẽ không giết ngươi cũng không giao ngươi vào tay những viên chức muốn giết ngươi.”
 Vậy Giê-rê-mi nói cùng vua Xê-đê-kia rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Nếu ngươi đầu hàng các sĩ quan của vua Ba-by-lôn thì mạng sống vua sẽ được bảo toàn. Giê-ru-sa-lem sẽ không bị hỏa thiêu, vua và gia đình vua sẽ sống. Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng các sĩ quan của vua Ba-by-lôn thì thành nầy sẽ bị trao vào tay quân Ba-by-lôn; chúng sẽ thiêu rụi thành, còn vua sẽ không thoát khỏi tay chúng.’”
 Vua Xê-đê-kia bảo Giê-rê-mi, “Ta sợ những người Giu-đa đã bỏ trốn theo người Canh-đê. Nếu người Ba-by-lôn trao ta vào tay chúng thì chúng sẽ hành hạ ta.”
 Nhưng Giê-rê-mi bảo đảm, “Quân Ba-by-lôn sẽ không trao vua vào tay người Do-thái đâu. Xin vua hãy vâng lời CHÚA đã phán qua tôi để vua được bình yên và bảo toàn mạng sống. Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng người Ba-by-lôn thì CHÚA cho tôi biết những gì sẽ xảy ra. Tất cả những người đàn bà còn lại trong cung vua Giu-đa sẽ bị mang ra trình diện các sĩ quan cao cấp của vua Ba-by-lôn. Họ sẽ chế nhạo vua bằng bài ca sau đây:
  ‘Các bạn vua đã giăng bẫy cho vua
   và mạnh hơn vua;
  Trong khi chân vua đã lún vào bùn,
   thì họ bỏ đi.’
 Tất cả các vợ và con của vua sẽ bị mang ra giao cho quân Ba-by-lôn. Vua sẽ không thoát khỏi tay họ mà sẽ bị vua Ba-by-lôn bắt, còn Giê-ru-sa-lem sẽ bị thiêu rụi.”
 Vua Xê-đê-kia liền bảo Giê-rê-mi, “Đừng cho ai biết ta đã nói chuyện với ngươi thì ngươi sẽ không chết. Nhưng nếu các viên chức nghe rằng ta đã nói chuyện với ngươi rồi họ đến bảo ngươi, ‘Hãy nói cho chúng ta biết ngươi đã nói với vua những gì và vua nói với ngươi ra sao. Nếu ngươi không chịu nói thì chúng ta sẽ giết ngươi.’ Nếu họ hỏi thì ngươi phải trả lời với họ như sau, ‘Tôi đã van xin vua đừng đưa tôi trở về nhà Giô-na-than kẻo tôi chết ở đó.’”
 Sau đó các viên chức đến hỏi Giê-rê-mi. Ông thuật lại cho họ theo như vua dặn. Cho nên họ thôi không hỏi nữa vì không ai nghe được Giê-rê-mi và vua đã nói gì với nhau.
 Giê-rê-mi bị giam trong sân của toán cận vệ cho đến ngày thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm.



..........



Chương ba mươi chín.

Thành Giê-ru-sa-lem thất thủ

 Thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm như sau: Tháng mười, năm thứ chín đời Xê-đê-kia, vua Giu-đa, thì Nê-bu-cát-nết-xa vua Ba-by-lôn cùng toàn đạo quân kéo đến vây đánh Giê-ru-sa-lem. Cuộc vây hãm kéo dài đến ngày chín tháng tư năm thứ mười một, đời vua Xê-đê-kia, thì thành bị chọc thủng. Tất cả các sĩ quan sau đây của vua Ba-by-lôn tiến vào Giê-ru-sa-lem và đến ngồi ở Cổng Giữa: Nê-ganh Sa-rê-xe, Xam-ga Nê-bô, Xa-xê-kim, sĩ quan tư lệnh người Ráp-sa-ít, Nê-ganh Sa-rê-xe người Ráp-ma, cùng toàn thể các viên chức cao cấp khác.
 Khi Xê-đê-kia vua Giu-đa và các binh sĩ thấy họ thì bỏ trốn lúc ban đêm, chạy theo ngõ vườn vua, lẻn qua cổng giữa hai vách thành rồi trốn theo hướng thung lũng Giô-đanh. Nhưng quân Ba-by-lôn rượt theo và đuổi kịp vua Xê-đê-kia trong bình nguyên Giê-ri-cô. Sau khi bắt được vua, họ giải ông đến trước Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang ở thành Ríp-la trong xứ Ha-mát. Vua Ba-by-lôn kết án Xê-đê-kia ở đó. Rồi vua Ba-by-lôn giết các con trai Xê-đê-kia và các viên chức cao cấp của Giu-đa trước mắt vua ở Ríp-la. Họ móc mắt Xê-đê-kia, lấy xiềng sắt xích ông lại và giải qua Ba-by-lôn.
 Sau đó quân Ba-by-lôn phóng hỏa cung vua cùng với nhà cửa của dân chúng và phá sập các vách thành quanh Giê-ru-sa-lem. Rồi Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ đặc biệt giải qua Ba-by-lôn tất cả dân chúng còn lại trong thành cùng những người trước đó đã đầu thú cùng với đám dân cư còn lại. Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ chỉ chừa lại trong xứ Giu-đa những người nghèo khổ, khố rách áo ôm, rồi ngày hôm đó cấp cho họ vườn nho và đồng ruộng để trồng trọt.
 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn ra lệnh cho Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ như sau về Giê-rê-mi: “Hãy tìm Giê-rê-mi và chăm sóc cẩn thận, không được làm hại người điều gì; nhưng hãy làm theo điều người yêu cầu.” Vậy Nê-bu-cát-nết-xa sai những người sau đây đi tìm Giê-rê-mi: Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ; Nê-bu-sa-ban, sĩ quan tư lệnh; Nê-ganh Sa-rê-xe, một viên chức cao cấp và tất cả các sĩ quan nòng cốt của vua Ba-by-lôn; Họ mang Giê-rê-mi từ sân của toán cận vệ rồi giao cho Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan là người nhận lệnh đưa ông về nhà. Vậy họ đưa ông về nhà và ông ở chung với dân chúng còn sót lại tại Giu-đa.

Sứ điệp của Chúa cho Ê-bết-Mê-léc

 Trong khi đó có lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi đang khi ông đang bị nhốt trong sân khám rằng: “Giê-rê-mi, hãy đi bảo Ê-bết-Mê-léc, người Cút rằng, CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau, ‘Ta sắp thực hiện những lời về Giê-ru-sa-lem bằng thảm họa chứ không bằng thái bình, thịnh vượng. Những lời đó sẽ thành sự thật trước mắt ngươi. Nhưng CHÚA phán, ta sẽ giải thoát ngươi trong ngày đó, ngươi sẽ không bị trao vào tay của những người mà ngươi sợ. Ta chắc chắn sẽ giải cứu ngươi, hỡi Ê-bết-Mê-léc. Ngươi sẽ không bị gươm giết; ngươi sẽ thoát và được sống vì ngươi đã đặt niềm tin cậy nơi ta,’ CHÚA phán vậy.

........



Chương bốn mươi.

Giê-rê-mi được trả tự do

 Có lời của CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán phòng vệ phóng thích ông ở Ra-ma. Ông tìm được Giê-rê-mi ở Ra-ma đang bị xiềng chung với đám tù binh Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sắp bị đày qua Ba-by-lôn. Khi Nê-bu-xa-ra-đan tìm được Giê-rê-mi thì nói cùng ông rằng, “CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã tuyên bố thảm họa sẽ xảy đến cho nơi nầy. Nay CHÚA đã thực hiện điều đó y như Ngài đã phán. Thảm họa nầy xảy đến vì dân Giu-đa phạm tội cùng CHÚA, không vâng lời Ngài. Nhưng bây giờ, ta đã tháo xiềng cho ngươi. Nếu ngươi muốn sang Ba-by-lôn với ta thì đi, ta sẽ lo cho ngươi, nhưng nếu ngươi không muốn đi thì thôi. Nầy, cả xứ đang ở trước mặt ngươi, ngươi muốn đi đâu tùy ý.” Khi Giê-rê-mi sắp sửa ra đi thì Nê-bu-xa-ra-đan bảo, “Hãy trở về với Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan mà vua Ba-by-lôn đã đặt làm quan tổng trấn các thành Giu-đa cũng được. Hãy ở với người trong vòng dân tộc ngươi. Hay ngươi muốn đi đâu tùy ý.”
 Vậy Nê-bu-xa-ra-đan cấp cho Giê-rê-mi lương thực và một món quà rồi thả ông ra. Giê-rê-mi liền đi đến Mích-ba ở với Ghê-đa-lia, con A-hi-cam và giữa những dân còn lại trong xứ.

Thời gian cai trị ngắn ngủi //của Ghê-đa-lia

 Khi các viên chỉ huy và quân sĩ Giu-đa dưới quyền ở ngoài đồng nghe vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam làm tổng trấn trong xứ và giao cho ông quản trị đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng những người nghèo khổ trong xứ không bị đày sang Ba-by-lôn, thì họ đều đến gặp Ghê-đa-lia ở Mích-ba. Trong số đó có Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, Giô-ha-nan và Giô-na-than con của Ka-rê-a, Sê-rai-gia con Tan-hu-mết, các con trai của Ê-phai người Nê-tô-phát, và Giê-xa-nia, con Ma-a-ca. Họ và binh sĩ dưới quyền đều đến.
 Ghê-đa-lia, con của A-hi-cam, cháu Sa-phan hứa cùng họ rằng, “Đừng sợ phải phục vụ người Ba-by-lôn. Hãy cứ ở trong xứ và thần phục vua Ba-by-lôn thì mọi việc sẽ êm thấm. Còn về phần ta, các ngươi phải biết, ta sẽ vẫn cứ ở tại Mích-ba để đại diện các ngươi trước mặt người Ba-by-lôn đã đến với chúng ta. Hãy gom góp rượu, các hoa quả mùa hè, dầu và bỏ tất cả trong thùng chứa rồi cư ngụ trong các thành mà các ngươi kiểm soát.”
 Các người Giu-đa khác đang ở Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm và trong các xứ khác nghe rằng vua Ba-by-lôn đã để lại một số người ở Giu-đa và rằng vua đã lập Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan làm tổng trấn, thì họ đều từ những nơi họ chạy trốn trở về xứ Giu-đa, đến cùng Ghê-đa-lia ở Mích-ba, và thu gom rượu và hoa quả mùa hè nhiều vô số.
 Giô-ha-nan, con Ka-rê-a cùng tất cả các viên chỉ huy quân đội đang ở ngoài đồng đến cùng Ghê-đa-lia tại Mích-ba nói cùng ông rằng, “Ông có biết rằng Ba-a-li, vua dân Am-môn đã sai Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đến để ám sát ông không?” Nhưng Ghê-đa-lia, con A-hi-cam không tin họ.
 Sau đó Giô-ha-an con Ka-rê-a nói riêng với Ghê-đa-lia ở Mích-ba rằng, “Cho phép tôi đi giết Ích-ma-ên, con Mê-tha-nia mà không ai biết. Tại sao để nó giết ông để khiến cho tất cả người Do-thái đã quy tụ quanh ông phải tản lạc và những người còn sót lại trong Giu-đa bị tiêu diệt?”
 Nhưng Ghê-đa-lia, con A-hi-cam trả lời cùng Giô-ha-nan con Ka-ê-ra rằng, “Đừng giết Ích-ma-ên vì ngươi đã bịa đặt vu khống anh ta.

.......

Chương bốn mươi mốt.

Đến tháng bảy, Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc dòng vua và là một trong các sĩ quan của vua Giu-đa cùng mười người nữa đến gặp Ghê-đa-lia, con A-hi-cam ở Mích-ba. Trong khi họ cùng ăn uống với nhau ở đó thì Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia cùng mười người đi với mình đứng lên lấy gươm giết Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan, người mà vua Ba-by-lôn đã cử làm tổng trấn của xứ. Ích-ma-ên cũng giết tất cả những người Do-thái ở với Ghê-đa-lia tại Mích-ba cùng những quân lính Ba-by-lôn có mặt ở đó.
 Hai ngày sau khi Ghê-đa-lia bị giết, chưa ai hay chuyện đó thì có tám mươi người từ Sê-chem, Si-lô, và Xa-ma-ri đến Mích-ba mang của lễ và trầm hương đến đền thờ CHÚA. Họ cạo râu, xé rách quần áo, cắt da thịt mình. Ích-ma-ên con Nê-tha-nia từ Mích-ba ra đón họ, vừa đi vừa khóc. Khi gặp họ hắn nói, “Mấy anh hãy cùng tôi đến gặp Ghê-đa-lia, con A-hi-cam.” Vậy họ đi đến Mích-ba rồi Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia cùng thuộc hạ liền giết bảy mươi người trong đám họ và quăng thây xuống một giếng sâu. Nhưng mười người còn sống sót bảo Ích-ma-ên, “Đừng giết chúng tôi. Chúng tôi có rất nhiều lúa mì, lúa mạch, rượu và mật ong giấu trong ruộng.” Vì thế Ích-ma-ên không giết họ chung với những người kia. Cái giếng mà Ích-ma-ên quăng các xác chết xuống là chỗ vua A-sa đã đào để lấy nước cho thành phố và cũng để phòng thủ chống lại Ba-a-sa, vua Ít-ra-en. Nhưng Ích-ma-ên, con Na-tha-nia quăng các thây vào đó cho đến khi đầy giếng.
 Ích-ma-ên bắt tất cả các người khác ở Mích-ba: các con gái vua cùng những người còn sót tại đó. Họ là những người mà Na-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ chỉ định Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, chăm sóc. Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia bắt họ và lên đường băng qua xứ dân Am-môn.
 Giô-ha-nan con Ca-rê-a và các sĩ quan ở với ông nghe biết tất cả những điều ác Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã làm. Nên họ mang thuộc hạ đi đánh Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia và bắt được hắn gần hồ lớn ở Ghi-bê-ôn. Khi các tù binh mà Ích-ma-ên đã bắt thấy Giô-ha-nan và các sĩ quan thì vô cùng mừng rỡ. Cho nên tất cả mọi người bị Ích-ma-ên bắt làm tù binh từ Mích-ba quay lại và chạy đến Giô-ha-nan, con Ca-rê-a. Nhưng Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia cùng với tám người chạy thoát khỏi Giô-ha-nan trốn đến dân Am-môn.
 Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và các sĩ quan của ông cứu thoát các tù binh mà Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã bắt từ Mích-ba sau khi hắn giết Ghê-đa-lia, con A-hi-cam. Trong số những người còn sống sót có các binh sĩ, đàn bà, trẻ con và các sĩ quan trong cung vua. Giô-ha-nan mang họ trở về từ thành Ghi-bê-ôn.

Trốn qua Ai-cập

 -Giô-ha-nan và các sĩ quan khác sợ người Ba-by-lôn vì vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia, con A-hi-cam làm tổng trấn Giu-đa nhưng Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã giết ông nên Giô-ha-nan sợ người Ba-by-lôn sẽ nổi giận. Họ định trốn qua Ai-cập. Trên đường đi họ ghé lại Ghê-rút Kim-ham, gần thành Bết-lê-hem.

…..

 

Chương bốn mươi hai.

Trong khi ở đó, Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và Giê-xa-nia, con Hô-sai-gia đến viếng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Tất cả các sĩ quan và toàn thể dân chúng thuộc mọi tầng lớp đều đi theo. Họ nói với ông, “Giê-rê-mi, xin nghe điều chúng tôi yêu cầu. Hãy cầu xin CHÚA là Thượng Đế ông cho những người còn sống sót từ gia đình Giu-đa. Trước kia chúng tôi rất đông đảo nhưng nay như ông thấy, chúng tôi chỉ còn lại rất ít. Cho nên xin ông cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế ông xem chúng tôi nên đi đâu hay làm gì.”
 Nhà tiên tri Giê-rê-mi đáp, “Ta hiểu các ngươi muốn ta làm gì rồi. Ta sẽ cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế các ngươi theo như các ngươi yêu cầu rồi ta sẽ bảo cho các ngươi biết mọi điều Ngài phán, không giấu diếm các ngươi điều gì.”
 Dân chúng nói cùng Giê-rê-mi, “Nguyện CHÚA làm nhân chứng chân thật và trung tín nghịch lại chúng tôi nếu chúng tôi không làm mọi điều CHÚA là Thượng Đế ông sai ông bảo chúng tôi.
 Dù chúng tôi có thích nghe lời Ngài phán hay không cũng không sao. Chúng tôi sẽ vâng theo CHÚA là Thượng Đế chúng ta, Đấng mà chúng tôi nhờ ông khẩn cầu. Chúng tôi sẽ vâng theo lời Ngài phán để phúc lành sẽ đến trên chúng tôi.”
 Mười ngày sau CHÚA phán cùng Giê-rê-mi.
 Giê-rê-mi liền gọi Giô-ha-nan, con Ca-rê-a, các sĩ quan đi với ông cùng toàn thể dân chúng thuộc mọi tầng lớp. Ông nói với họ, “Các ngươi sai ta đi cầu hỏi CHÚA về điều mình muốn. Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau: ‘Nếu các ngươi ở lại Giu-đa, ta sẽ xây các ngươi lên chớ không phá đổ xuống. Ta sẽ trồng các ngươi chớ không nhổ lên vì ta rất buồn về thảm họa mà ta mang đến cho các ngươi. Bây giờ các ngươi sợ vua Ba-by-lôn nhưng đừng e sợ người nữa. Đừng sợ người,’ CHÚA phán, ‘vì ta ở với các ngươi. Ta sẽ giải cứu và giải thoát các ngươi khỏi quyền lực người. Ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi, và người cũng sẽ lấy lòng thương xót đối với các ngươi và để các ngươi sống trong xứ mình.’
 Nhưng nếu các ngươi nói, ‘Chúng tôi sẽ không ở trong xứ Giu-đa,’ tức là các ngươi không vâng lời CHÚA là Thượng Đế mình.
 Hay nếu các ngươi nói, ‘Không, chúng tôi sẽ đi xuống sống ở Ai-cập. Ở đó chúng tôi sẽ không thấy giặc giã, không nghe tiếng kèn trận, hay bị đói kém.’ Nếu các ngươi nói như thế thì hãy nghe lời CHÚA phán cùng các ngươi là những người còn sống sót trong Giu-đa. CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Nếu các ngươi nhất định đi xuống sống ở Ai-cập thì những việc sau đây sẽ xảy đến: Các ngươi sợ giặc giã nhưng giặc giã sẽ theo đuổi các ngươi ở xứ Ai-cập. Các ngươi lo bị đói kém nhưng đói kém sẽ theo ngươi xuống Ai-cập và các ngươi sẽ chết ở đó. Ai đi xuống Ai-cập đều sẽ chết vì chiến tranh, đói kém hay vì bệnh tật kinh khiếp. Không ai đi xuống Ai-cập mà còn sống; sẽ không ai thoát khỏi những tai họa khủng khiếp mà ta sẽ giáng trên chúng.’”
 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta đã tỏ cơn thịnh nộ ta nghịch cùng dân cư Giê-ru-sa-lem. Cũng vậy, ta sẽ tỏ cơn thịnh nộ ta cùng các ngươi khi các ngươi xuống Ai-cập. Các dân tộc khác sẽ nói xấu các ngươi. Họ sẽ sửng sốt khi thấy những tai họa xảy đến cho các ngươi. Ngươi sẽ thành một lời nguyền rủa và người ta sẽ sỉ nhục các ngươi. Các ngươi sẽ không còn được nhìn thấy xứ Giu-đa nữa.”
 “Hỡi các ngươi là những kẻ còn sống sót trong Giu-đa, CHÚA phán cùng các ngươi, ‘Chớ đi xuống Ai-cập.’ Các ngươi phải hiểu rõ điều đó; hôm nay ta cảnh cáo trước cho các ngươi rằng,
 các ngươi đã lầm lẫn và sự lầm lẫn đó đưa đến cái chết cho các ngươi. Vì các ngươi nhờ ta cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế mình rằng, ‘Hãy cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế giùm cho chúng tôi. Xin hãy cho chúng tôi biết điều CHÚA là Thượng Đế chúng tôi phán thì chúng tôi sẽ làm theo.’ Cho nên hôm nay ta đã bảo cho các ngươi biết, nhưng các ngươi không vâng theo lời CHÚA là Thượng Đế các ngươi là Đấng sai ta nói cho các ngươi biết. Vì các ngươi phải hiểu rõ điều nầy: Các ngươi sẽ chết vì chiến tranh, đói kém, và dịch lệ ở xứ mà các ngươi muốn đi đến định cư.

……………….

 

Chương bốn mươi ba.

Vậy Giê-rê-mi thuật lại cho họ hết mọi lời của CHÚA là Thượng Đế họ; ông thuật lại cho họ nghe mọi điều CHÚA là Thượng Đế họ phán dặn ông.
 A-xa-ria, con Hô-sai-gia, Giô-ha-nan con Ca-rê-a, và mấy người nữa rất tự phụ. Họ bảo Giê-rê-mi, “Ông nói dối! CHÚA không có sai ông để bảo rằng, ‘Các ngươi không được xuống sống ở Ai-cập.’
 Chính Ba-rúc, con Nê-ri-a xúi ông nghịch cùng chúng tôi. Hắn muốn trao chúng tôi vào tay người Ba-by-lôn để giết chúng tôi hay bắt chúng tôi đày sang Ba-by-lôn.”
 Vậy Giô-ha-nan, các sĩ quan và toàn thể dân chúng bất tuân mệnh lệnh CHÚA bảo phải ở lại Giu-đa.
 Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và các sĩ quan mang các người còn sót ở Giu-đa đi. Họ là những người đã chạy trốn khỏi quân Ba-by-lôn sang các xứ khác nhưng đã trở về sống ở Giu-đa. Họ mang theo đàn ông, đàn bà, trẻ con, và các con gái vua. Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ đã đặt Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan cai trị họ. Giô-ha-nan cũng bắt nhà tiên tri Giê-rê-mi theo và Ba-rúc, con Nê-ri-a. Họ không nghe lời CHÚA. Cho nên tất cả đi xuống Ai-cập, đến thành Ta-phan-hết.
 Ở Ta-phan-hết CHÚA phán như sau với Giê-rê-mi:
 “Hãy lấy mấy tảng đá lớn. Chôn chúng vào đất sét nơi lề đường lát gạch trước cung vua Ai-cập ở Ta-phan-hết. Hãy làm trước mắt dân Do-thái. Rồi bảo họ, ‘CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta sắp sửa sai tôi tớ ta là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Ta sẽ đặt ngôi người trên các tảng đá nầy mà ta đã chôn, và người sẽ lấy lọng che trên chúng. Người sẽ đến tấn công Ai-cập. Người sẽ mang cái chết đến cho kẻ phải chết, cầm tù những kẻ phải bị cầm tù và mang chiến tranh đến cho những kẻ phải bị giết bằng gươm. Nê-bu-cát-nết-xa sẽ phóng hỏa các đền thờ của các thần Ai-cập và thiêu đốt chúng. Người sẽ cướp đi hết các thần tượng. Người dọn Ai-cập sạch sẽ như người chăn chiên gỡ hết các con rận ra khỏi áo lông của mình. Rồi người sẽ thong dong rời Ai-cập. Người sẽ tiêu hủy các trụ thờ trong đền thờ thần mặt trời ở Ai-cập và sẽ thiêu rụi đền thờ các thần của Ai-cập.

…………………

 

Chương bốn mươi bốn.

Chúa cảnh cáo dân Giu-đa

 Giê-rê-mi nhận được lời của CHÚA dành cho tất cả các người Giu-đa đang sống ở Ai-cập: trong các thành Mi-đôn, Ta-phan-hết, Mem-phít, và vùng nam Ai-cập. Lời đó như sau: CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Các ngươi đã thấy những điều khủng khiếp ta giáng trên Giê-ru-sa-lem và các thị trấn Giu-đa là những nơi hiện nay trở thành hoang tàn không ai ở vì dân chúng sống ở đó đã làm điều ác. Chúng chọc giận ta bằng cách đốt hương và bái lạy các thần khác mà chính chúng, các ngươi hay tổ tiên các ngươi chưa hề biết. Nhiều lần ta sai các tôi tớ ta, tức các nhà tiên tri đến với các ngươi. Ta phán qua họ rằng, ‘Chớ làm điều ghê tởm nầy mà ta ghét.’ Nhưng chúng không nghe cũng không thèm để ý đến. Chúng vẫn cứ làm ác và dâng hương cho các thần khác. Cho nên ta tỏ cơn thịnh nộ ta trên chúng. Ta trút cơn giận ta trên các thị trấn Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem để những nơi đó thành chỗ đổ nát và đống đá vụn cho đến hôm nay.”
 Bây giờ CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Tại sao các ngươi tự chuốc họa vào thân như vậy? Các ngươi đã cắt đứt đàn ông, đàn bà, trẻ con và hài nhi khỏi Giu-đa, không chừa lại cho mình một người nào trong Giu-đa hết. Tại sao các ngươi muốn chọc giận ta bằng cách tạc tượng các tà thần? Tại sao các ngươi đốt hương cho các thần của Ai-cập nơi các ngươi sống? Các ngươi chỉ tự hủy hoại mình thôi. Các dân tộc khác sẽ nói xấu ngươi và chế giễu ngươi. Các ngươi đã quên những việc ác mà tổ tiên các ngươi làm rồi sao? Các ngươi đã quên điều ác các vua và hoàng hậu Giu-đa làm rồi sao? Các ngươi đã quên điều ác ngươi và vợ các ngươi làm rồi sao? Những điều ác đó đã diễn ra trong xứ Giu-đa và trên các đường phố Giê-ru-sa-lem. Thậm chí cho đến ngày nay dân Giu-đa vẫn còn quá tự phụ. Chúng không chịu tôn kính ta hay vâng theo lời giáo huấn ta. Chúng không vâng giữ luật lệ ta ban cho các ngươi và tổ tiên các ngươi.”
 Vì thế nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Các ngươi phải biết rằng ta nhất quyết giáng thảm họa trên các ngươi. Ta sẽ tiêu diệt toàn thể gia đình Giu-đa. Một số ít dân còn sống sót của Giu-đa nhất định đi xuống định cư ở Ai-cập nhưng tất cả chúng nó đều sẽ chết ở đó. Chúng đều sẽ bị giết vì giặc giã hay chết vì đói kém. Từ sang đến hèn đều sẽ bị giết vì giặc giã hay chết vì đói kém. Các dân tộc khác sẽ nói xấu chúng. Người ta sẽ sửng sốt khi nhìn thấy số phận chúng. Chúng sẽ trở thành lời nguyền rủa, người ta sẽ sỉ nhục chúng. Ta sẽ trừng phạt những kẻ đi xuống sinh sống ở Ai-cập như ta đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm giáo, đói kém và dịch lệ. Sẽ không có ai trong số những kẻ còn sống sót của Giu-đa đã đi xuống sinh sống ở Ai-cập thoát khỏi sự trừng phạt của ta. Chúng sẽ muốn trở về Giu-đa và sinh sống nhưng sẽ không có một ai trở về ngoại trừ một số rất ít trốn thoát được.”
 Một số đông người Giu-đa sống ở miền Nam Ai-cập họp nhau lại. Trong đó có nhiều người đàn bà Giu-đa đã đốt hương cho các thần khác, và chồng họ biết chuyện ấy. Họ nói cùng Giê-rê-mi, “Chúng tôi sẽ không nghe lời CHÚA mà ông nói cùng chúng tôi. Chúng tôi đã hứa dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và chúng tôi chắc chắn sẽ thực hiện những điều chúng tôi đã hứa. Chúng tôi sẽ đốt hương và đổ của lễ uống ra để bái lạy nữ thần đó như chúng tôi, tổ tiên chúng tôi, các vua và các quan chức đã làm trước kia. Tất cả chúng tôi đã làm như thế trong các thị trấn Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem. Lúc chúng tôi thờ lạy Nữ vương trên trời thì chúng tôi có dư thực phẩm và thịnh vượng, không gặp điều chẳng lành nào. Nhưng từ khi chúng tôi ngưng dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và ngưng dâng của lễ uống cho Nữ vương thì chúng tôi gặp đủ thứ hoạn nạn. Dân cư chúng tôi bị chết vì giặc giã và đói kém.”
 Rồi các người đàn bà lên tiếng, “Chồng chúng tôi biết chuyện chúng tôi làm. Chúng tôi được phép của chồng mình để đốt hương cho Nữ vương trên trời và đổ của lễ uống ra cho nàng. Chồng chúng tôi biết chúng tôi làm bánh trông giống mặt nàng và đổ của lễ uống ra cho nàng.”
 Giê-rê-mi liền nói cùng tất cả dân chúng, cả đàn ông lẫn đàn bà là những người đã trả lời với ông. Ông bảo, “CHÚA nhớ lại rằng các ngươi và tổ tiên các ngươi, các vua và các quan chức cùng toàn dân trong xứ đã đốt hương trong các thị trấn Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem. Ngài nhớ lại và suy nghĩ về điều ấy. Và rồi Ngài không thể nhẫn nhục với các ngươi được nữa. Ngài gớm ghê những điều các ngươi làm cho nên Ngài biến xứ các ngươi thành sa mạc hoang vu không ai ở. Các dân khác nguyền rủa xứ đó. Ngày nay vẫn như thế. Những việc đó xảy đến vì các ngươi dâng hương cho các thần khác. Các ngươi phạm tội cùng CHÚA, không vâng lời Ngài, không giữ giao ước Ngài hay luật lệ Ngài ban cho các ngươi. Vì thế thảm họa nầy xảy đến cho các ngươi như các ngươi thấy ngày nay.”
 Rồi Giê-rê-mi nói cùng các người đàn ông và đàn bà đó rằng, “Hỡi dân Giu-đa hiện đang sống trong xứ Ai-cập, hãy nghe lời CHÚA: CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Các ngươi và vợ các ngươi đã làm điều mình nói. Các ngươi nói, ‘Chúng tôi nhất quyết giữ lời hứa của chúng tôi. Chúng tôi đã hứa dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và đổ của lễ uống ra cho nàng.’ Cho nên hãy làm đi. Hãy làm điều các ngươi hứa và hãy giữ lời hứa đó. Nhưng hãy nghe lời CHÚA phán. ‘Hỡi các người Do thái hiện đang sống ở Ai-cập hãy nghe đây.’ CHÚA phán, ‘Ta đã nhân danh lớn của ta mà thề: Dân Giu-đa hiện đang sống ở Ai-cập sẽ không còn được dùng danh ta để hứa nguyện nữa. Tại Ai-cập họ sẽ không còn nói: Thật như CHÚA là Thượng Đế hằng sống …’ Các ngươi phải biết rằng ta đang trông chừng chúng nó, không phải để chăm sóc chúng mà là để làm hại. Dân Do-thái ở Ai-cập sẽ bị chết bằng gươm giáo hay đói kém cho đến khi tất cả đều bị tiêu diệt. Một số ít thoát chết khỏi gươm giáo sẽ từ Ai-cập trở về Giu-đa. Rồi những người Giu-đa đã đến định cư tại Ai-cập, những kẻ còn sống sót sẽ biết rằng lời ta hay lời của chúng nó thành sự thật.” CHÚA phán, “Ta sẽ cho các ngươi một dấu hiệu để thấy ta sẽ trừng phạt các ngươi ở đây tại Ai-cập. Khi các ngươi thấy dấu hiệu đó thì sẽ biết những lời ta nghịch lại các ngươi chắc chắn sẽ thành sự thật.” CHÚA phán: “Hóp-ra, vua Ai-cập hiện có những kẻ thù muốn giết nó. Ta sắp trao nó vào tay các kẻ thù nó như ta đã trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa vào tay Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, là người muốn giết nó.”

……………………

 

Chương bốn mươi lăm.

Lời khuyên Ba-rúc

 Vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa thì Giê-rê-mi bảo cho Ba-rúc, con Nê-ri-a những điều sau đây. Rồi Ba-rúc viết lại trên một cuộn giấy: “Hỡi Ba-rúc, đây là lời CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán cùng ngươi: Ngươi đã nói, ‘Khốn cho tôi! CHÚA đã giáng cho tôi sự buồn bã cùng với đau đớn! Tôi kiệt lực vì đau khổ và không được nghỉ ngơi.’” CHÚA phán, “Hãy bảo Ba-rúc như sau: ‘CHÚA nói: Các ngươi phải biết rằng ta sắp phá sập những gì mà ta đã dựng lên, và ta sẽ nhổ lên vật mà ta đã trồng khắp nơi trong Giu-đa. Hỡi Ba-rúc, ngươi đang tìm kiếm những việc lớn cho ngươi. Đừng tìm nữa vì ta sắp mang thảm hoạ trên toàn dân, CHÚA phán vậy. Ngươi sẽ đi nhiều nơi nhưng ta sẽ giúp ngươi bảo toàn mạng sống ở bất cứ nơi nào ngươi đi.’

 

………………..

 

Chương bốn mươi sáu.

Lời giảng cho các dân

 CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi về các dân tộc.

Sứ điệp cho Ai-cập

 Lời tiên tri về Ai-cập. Lời nầy dành cho quân đội của Nê-cô, vua Ai-cập là đạo quân bị Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đánh bại ở thành Cạt-kê-mít trên sông Ơ-phơ-rát. Việc đó xảy ra vào năm thứ tư khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa. Lời CHÚA phán như sau cho Ai-cập:
  “Hãy chuẩn bị thuẫn lớn và nhỏ
   để xông ra mặt trận!
  Hãy thắng yên ngựa
   và leo lên lưng chúng!
  Hãy tiến vào vị trí ngươi để ra trận
   và đội nón sắt lên!
  Hãy đánh bóng gươm ngươi.
   Hãy mặc áo giáp vào!
  Tôi thấy gì?
  Tôi thấy đạo quân đang kinh hoàng,
   quân lính đang bỏ chạy.
  Các chiến sĩ chúng bị đánh bại.
   Chúng bỏ chạy nhanh
   không dám quay lại nhìn.
  Bên nào cũng thấy kinh hoàng!” CHÚA phán vậy.
  “Người chạy nhanh không thể trốn;
   các chiến sĩ mạnh dạn không thoát được.
  Chúng đều vấp té và ngã nhào ở hướng Bắc,
   gần bên sông Ơ-phơ-rát.
  Người nầy là ai mà nổi dậy như sông Nin,
   như các sông chảy cuồn cuộn?
  Ai-cập dậy lên như sông Nin,
   như các sông chảy cuồn cuộn.
  Ai-cập nói, ‘Ta sẽ nổi lên bao phủ khắp đất.
   Ta sẽ tiêu diệt các thành phố và dân cư trong đó!’
  Hỡi các lính cỡi ngựa, hãy xông ra trận!
   Hỡi các tài xế quân xa, hãy lái mạnh lên!
  Hỡi các chiến sĩ gan dạ, hãy tiến lên,
   tức các chiến sĩ từ các xứ Cút
   và Phút mang khiên,
  và các chiến sĩ từ Ly-đi dùng cung tên.
  Nhưng ngày đó thuộc về CHÚA
   là Thượng Đế Toàn Năng.
  Lúc ấy Ngài sẽ trừng phạt các dân ấy,
   tương xứng với tội lỗi chúng.
  Gươm sẽ giết cho đến khi xong,
   cho đến khi nó hết say máu.
  Vì CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng sẽ dâng sinh tế
   trong xứ miền Bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.
  Hỡi trinh nữ Ai-cập, hãy đi lên Ghi-lê-át lấy thuốc thơm!
   Các ngươi đã chuẩn bị nhiều thuốc thang,
   nhưng không hiệu nghiệm;
   ngươi sẽ không lành.
  Các dân đã nghe về sự sỉ nhục ngươi,
   và tiếng kêu la ngươi vang dậy đất.
  Chiến sĩ nầy chạy đâm đầu vào chiến sĩ kia;
   rồi cả hai cùng té nhào!”
 Sau đây là lời CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi về Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang đến tấn công Ai-cập:
  “Hãy tuyên bố tin nầy trong Ai-cập,
   và giảng giải nó trong Mi-đôn.
  Rao nó ra trong các thành Mem-phít
   và Ta-phan-hết:
  ‘Hãy chuẩn bị chiến tranh,
   vì quanh ngươi toàn là mặt trận.’
  Hỡi Ai-cập, sao các chiến sĩ ngươi bị giết?
  Chúng không đứng vững được
   vì CHÚA đã xô chúng ngã.
  Chúng ngã tới ngã lui
   và ngã chồng lên nhau.
  Chúng bảo, ‘Hãy đứng dậy.
  Chúng ta hãy trở về cùng dân tộc
   và quê hương chúng ta.
  Chúng ta phải chạy tránh khỏi lưỡi gươm quân thù!’
  Trong quê hương chúng các chiến sĩ đó kêu to,
   ‘Vua Ai-cập chỉ là thùng rỗng.
  Người đã bỏ lỡ cơ hội nhận vinh hiển!’”
  Danh hiệu của Vua là CHÚA Toàn Năng.
  Ngài phán, “Thật như ta hằng sống,
   một lãnh tụ hùng mạnh mới sẽ đến.
  Người sẽ như núi Ta-bô trong vòng các núi,
   như núi Cạt-mên gần biển.
  Hỡi dân Ai-cập, hãy gói ghém hành trang
   để lên đường làm tù binh,
   vì Mem-phít sẽ bị tiêu diệt.
  Nó sẽ trở thành đống đổ nát, không ai ở.
  Ai-cập giống như bò cái tơ xinh đẹp,
   nhưng một con mòng bay đến
   từ phương Bắc chích nó.
  Các lính đánh thuê của đạo quân Ai-cập
   như bò con mập,
  cùng nhau quay lưng bỏ chạy;
   chúng không chống nổi cuộc tấn công.
  Vì thời kỳ hủy diệt của chúng đã đến;
   chúng sắp bị trừng phạt.
  Ai-cập như con rắn phun nọc,
   đang tìm cách trốn thoát.
  Kẻ thù càng lúc càng tiến gần như vũ bão.
  Chúng mang rìu nghịch lại Ai-cập
   như người ta đốn cây.
  Chúng sẽ đốn đạo quân Ai-cập
   như đốn một khu rừng lớn,” CHÚA phán vậy.
  “Lính của quân thù đông hơn cào cào;
   vô số không thể đếm được.
  Dân Ai-cập sẽ bị sỉ nhục.
  Chúng sẽ bị trao vào tay kẻ thù
   từ phương Bắc.”
 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sắp trừng phạt A-môn, thần của thành Thê-be. Ta cũng sẽ trừng phạt Ai-cập, các vua, các thần nó và những ai trông cậy vào vua. Ta sẽ trao chúng cho kẻ thù là những kẻ muốn sát hại chúng. Ta sẽ trao chúng cho Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn và các sĩ quan người. Nhưng trong tương lai, Ai-cập sẽ sống an bình như thuở trước,” CHÚA phán vậy.

Lời tiên tri cho Ít-ra-en

  “Hỡi dân Gia-cốp, tôi tớ ta, đừng sợ;
   hỡi Ít-ra-en, đừng kinh hãi.
  Ta chắc chắn sẽ giải cứu ngươi
   từ những nơi xa xăm
   và giải thoát con cái ngươi
   khỏi những xứ mà chúng bị cầm tù.
  Dân Gia-cốp sẽ hưởng thái bình
   và an ninh trở lại,
   sẽ không ai khiến chúng sợ hãi nữa.
  Hỡi dân Gia-cốp, tôi tớ ta, đừng sợ,
   vì ta ở với các ngươi,” CHÚA phán vậy.
  “Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt các dân tộc
   mà ta đã đày các ngươi đến.
  Nhưng ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt ngươi.
  Ta sẽ sửa phạt ngươi một cách công bằng,
   nhưng ta sẽ không để ngươi khỏi bị phạt.

…………………..

 

Chương bốn mươi bảy.

Lời tiên tri về dân Phi-li-tin

 Trước khi vua Ai-cập tấn công thành Ga-xa, CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Đây là lời tiên tri cho dân Phi-li-tin.
  CHÚA phán như sau:
  “Nầy, kẻ thù đang tập họp ở phía Bắc
   như nước dâng.
  Chúng sẽ như nước lũ tràn bờ
   bao phủ cả xứ như cơn lụt lội,
   luôn các thị trấn và dân cư sống trong đó.
  Ai sống trong xứ cũng kêu cứu;
   dân chúng sẽ kêu khóc thảm thương.
  Chúng sẽ nghe tiếng ngựa phi
   và tiếng quân xa ồn ào
   cùng tiếng bánh xe rầm rập.
  Cha mẹ không bảo vệ được con cái mình,
   vì họ cũng quá yếu ớt.
  Đã đến lúc toàn dân Phi-li-tin bị hủy diệt.
  Đã đến lúc tiêu diệt những ai còn sống sót
   là những kẻ có thể giúp đỡ hai thành Tia và Xi-đôn.
  CHÚA sắp sửa tiêu diệt dân Phi-li-tin,
   tức những kẻ còn sống sót trên đảo Cơ-rết.
  Dân cư thành Ga-xa sẽ buồn thảm và cạo đầu.
   Dân cư thành Ách-kê-lôn sẽ im lặng.
  Hỡi những kẻ còn sống sót trong thung lũng,
   các ngươi tự cắt thịt mình cho đến chừng nào?
  Các ngươi kêu, ‘Hỡi gươm của CHÚA,
   ngươi sẽ đánh cho đến bao giờ?
  Hãy tra vào vỏ trở lại.
  Hãy thôi và nằm yên đi.’
  Nhưng làm sao gươm Ngài nghỉ ngơi
   khi CHÚA đã ra lệnh cho nó?
  Ngài đã ra lệnh cho nó tấn công Ách-kê-lôn và vùng duyên hải.”

………………………..

 

Chương bốn mươi tám.

Lời tiên tri về Mô-áp

 Đây là lời tiên tri về xứ Mô-áp. CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán:
  “Khốn cho núi Nê-bô,
   vì nó sẽ điêu tàn.
  Thành Ki-ri-át-tha-im sẽ bị sỉ nhục
   và bị chiếm lấy;
   thành kiên cố đó sẽ bị hổ nhục và tan tành.
  Mô-áp sẽ không được tán dương nữa.
  Các người trong thị trấn Hết-bôn
   đã dự định đánh bại Mô-áp.
  Chúng bảo, ‘Chúng ta hãy đến thanh toán quốc gia đó!’
  Hỡi thành của những Kẻ Điên,
   ngươi cũng sẽ phải câm miệng.
  Gươm sẽ đuổi theo ngươi.
  Hãy nghe tiếng kêu khóc
   từ thị trấn Hô-rô-na-im,
   tiếng kêu hỗn độn và hủy phá lớn lao.
  Mô-áp sẽ bị tan vỡ.
   Con nhỏ của nó sẽ kêu cứu.
  Dân cư Mô-áp sẽ đi lên đường
   đến thị trấn Lu-hít,
   vừa đi vừa khóc thảm thiết.
  Trên con đường xuống Hô-rô-na-im
   người ta nghe tiếng khóc đau khổ.
  Hãy chạy đi! Hãy chạy cứu mạng!
   Hãy chạy đi như bụi gai khô
   bị gió thổi qua sa mạc.
  Các ngươi cậy vào việc mình làm
   và vào của cải mình,
   cho nên các ngươi sẽ bị bắt.
  Thần Kê-mốt sẽ bị đi đày
   cùng với các thầy tế lễ và viên chức của nó.
  Kẻ hủy diệt sẽ đến nghịch lại mỗi thành;
   không thành nào thoát khỏi.
  Thung lũng sẽ điêu tàn,
   và vùng cao nguyên sẽ bị tiêu diệt,
   như CHÚA đã phán.
  Hãy ban cánh cho Mô-áp,
   vì nó sẽ phải bỏ xứ mình.
  Các thành của Mô-áp sẽ hoang vu,
   không ai ở.
  Đáng rủa thay cho những kẻ lơ là
   khi làm việc CHÚA,
  Đáng rủa thay cho những kẻ
   không dùng gươm mình để giết.
  Dân Mô-áp chưa hề biết khốn khó.
  Chúng như rượu đang lắng đọng;
   chưa hề được đổ từ bình nầy sang bình khác.
  Chúng chưa hề bị bắt làm tù binh.
  Cho nên rượu chúng vẫn có vị như cũ,
   và mùi chúng không thay đổi.”
  CHÚA phán, “Các ngươi phải biết,
   sẽ đến lúc ta sai người để
   đổ các ngươi từ bình nầy sang bình khác.
  Họ sẽ trút hết các bình của Mô-áp
   và đập bể các hũ của nó.
  Dân Ít-ra-en tin vào thần của thành Bê-tên,
   và cảm thấy xấu hổ khi không được giúp đỡ.
  Cũng vậy, Mô-áp sẽ xấu hổ về thần Kê-mốt của mình.
  Các ngươi không thể nói, ‘Chúng ta là chiến sĩ!
   Chúng ta bạo dạn trong chiến trận!’
  Kẻ hủy diệt Mô-áp cùng các thành nó đã đến.
   Các thanh niên khoẻ mạnh nhất của nó
   sẽ bị giết!” Vua phán vậy,
   danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
  “Ngày tận cùng của Mô-áp gần kề rồi,
   nó sắp bị tiêu diệt.
  Hỡi các ngươi là kẻ sống quanh Mô-áp,
   hỡi các ngươi là kẻ biết đến nó,
   hãy than khóc cho nó đi.
  Hãy nói, ‘Quyền lực của kẻ cầm quyền bị bẻ gãy rồi;
  Quyền lực và vinh hiển của Mô-áp
   không còn nữa.’
  Các ngươi là kẻ sống trong thành Đi-bôn,
   hãy xuống khỏi ghế danh dự mình,
   mà ngồi trên đất khô,
   vì kẻ hủy diệt Mô-áp đã đến nghịch ngươi.
  Nó đã phá hủy các thành
   có vách kiên cố của ngươi.
  Các ngươi là những kẻ sống trong thành A-rô-e,
   hãy đứng bên đường mà nhìn.
  Thấy người đàn ông đang bỏ chạy
   và người đàn bà đang bỏ trốn.
  Hãy hỏi họ, ‘Có chuyện gì vậy?’
  Mô-áp nhục nhã vì nó bị điêu tàn rồi.
   Hỡi Mô-áp, hãy kêu khóc lên!
  Hãy loan báo nơi sông Ạc-nôn rằng:
   Mô-áp đã bị tiêu diệt rồi.
  Dân chúng trên vùng cao nguyên
   đã bị trừng phạt.
  Sự đoán phạt đã đến
   trên các thành sau đây:
  Hô-lôn, Gia-xa, và Mê-pha-át;
  Đi-bôn, Nê-bô, và Bết Đíp-la-tha-im;
  Ki-ri-át-tha-im, Bết-Ga-mun, và Bết-Mê-ôn;
  Kê-ri-ốt và Bốt-ra.
  Sự đoán phạt đã đến
   trên các thành của Mô-áp, gần và xa.
  Sức mạnh của Mô-áp đã bị cắt đứt,
   cánh tay nó đã bị bẻ gãy rồi!” CHÚA phán vậy.
  “Dân Mô-áp nghĩ mình lớn hơn CHÚA,
   cho nên hãy trừng phạt chúng
   cho đến khi chúng liểng xiểng như người say.
  Mô-áp sẽ ngã té và lăn vào
   chỗ chúng đã mửa,
  Mọi người sẽ chê cười chúng.
  Hỡi Mô-áp, ngươi đã chế giễu Ít-ra-en.
  Ít-ra-en bị kẹt giữa lũ ăn trộm,
  Nhưng khi nói về Ít-ra-en thì ngươi lắc đầu,
   như thể ngươi tốt hơn nó.
  Hỡi dân cư Mô-áp, hãy bỏ hoang các thị trấn ngươi
   và đến sống giữa các tảng đá.
  Hãy như chim cu đất làm tổ nơi cửa hang.
  Chúng ta đã nghe rằng dân Mô-áp rất tự phụ,
   vô cùng huênh hoang.
  Chúng vô cùng tự phụ và huênh hoang,
   trong lòng chúng rất hợm hĩnh.”
  CHÚA phán, “Ta biết tính kiêu căng của Mô-áp,
   nhưng tính ấy vô dụng.
  Tính huênh hoang của nó,
   cũng như việc nó làm đều giả dối.
  Cho nên ta khóc lóc buồn bã vì Mô-áp,
   vì mỗi người trong Mô-áp.
  Ta than vãn cho dân thành Kiệt Ha-sê-rết.
  Ta khóc lóc cho dân thành Gia-xe,
  cho các ngươi, hỡi các cây nho
   của thành Xíp-ma.
  Trước kia các dây nho ngươi
   vươn ra đến biển,
   chạy dài đến tận Gia-xe.
  Nhưng kẻ hủy diệt đã cướp lấy
   hoa quả và trái nho ngươi.
  Sự vui mừng và hạnh phúc
   đã biến mất khỏi các đồng ruộng
   bao la màu mỡ của Mô-áp.
  Ta đã chận không cho rượu chảy ra
   từ bàn ép rượu.
  Không ai còn đạp trái nho
   và reo hò vui vẻ nữa.
  Có tiếng reo hò,
   nhưng không phải reo hò vì vui vẻ.
  Tiếng kêu khóc của chúng có thể nghe được từ các thị trấn Mô-áp,
   từ Hết-bôn cho đến Ê-lê-a-lê và Gia-hát.
  Tiếng đó có thể nghe từ Xoa
   cho đến tận Hô-rô-na-im
   và Ết-lát Sê-li-si-gia.
  Thậm chí các nguồn nước của Nim-rim
   cũng đã khô cạn rồi.
  Ta sẽ ngăn không cho Mô-áp dâng của lễ thiêu
   nơi thờ phụng của chúng,
   không cho chúng đốt hương
   cho các thần của chúng,” CHÚA phán vậy.
  “Vì thế mà lòng ta khóc lóc thảm sầu cho Mô-áp
   như sáo thổi bản ai ca.
  Nó rên rỉ như tiếng sáo
   của dân Kiệt Ha-sê-rết.
   Sự giàu có mà chúng kiếm được đã bị cướp mất.
  Đầu nào cũng bị cạo trọc, râu đều bị cạo sạch.
   Tay nào cũng bị cắt,
  Ai cũng quấn vải sô quanh hông.
  Dân chúng than khóc trên mỗi mái nhà ở Mô-áp,
   trong chỗ công cộng.
  Không còn gì ngoài nỗi thảm sầu,
   vì ta đã đập bể Mô-áp như bình gốm
   không ai dùng nữa,” CHÚA phán vậy.
  “Mô-áp đã bể vụn rồi! Dân chúng đang than khóc!
  Mô-áp quay mặt đi vì xấu hổ!
  Dân cư quanh chúng chế giễu chúng.
   Bao nhiều điều xảy đến khiến chúng sợ hãi.”
  CHÚA phán như sau:
   “Kìa, có ai đang đến,
   như chim ó lao xuống vồ mồi từ trên không
   và giương cánh ra trên Mô-áp.
  Các thị trấn Mô-áp sẽ bị chiếm,
   còn các thành có vách kiên cố sẽ thất thủ.
  Lúc ấy các chiến sĩ Mô-áp sẽ kinh hoàng,
   như đàn bà sắp sinh con.
  Dân Mô-áp sẽ bị tiêu diệt,
   vì chúng nghĩ mình lớn hơn CHÚA.
  Sự kinh hãi, hố sâu,
   và cạm bẫy đang chờ đợi ngươi đó,
   hỡi dân cư Mô-áp,” CHÚA phán vậy.
  “Dân chúng sẽ bỏ chạy vì sợ hãi,
   nhưng sẽ rơi xuống hố.
  Ai trèo được ra khỏi hố sẽ rơi vào bẫy.
  Ta sẽ mang năm trừng phạt đến cho Mô-áp,”
   CHÚA phán vậy.
  “Dân chúng đã chạy khỏi kẻ thù hùng mạnh
   và trốn đến Hết-bôn để an thân.
  Nhưng lửa bốc cháy từ Hết-bôn;
   cơn hỏa hoạn lan ra từ quê quán của Si-hôn,
   vua Mô-áp.
  Nó thiêu đốt các lãnh tụ của Mô-áp
   hủy diệt những bọn tự phụ đó.
  Hỡi Mô-áp, khốn cho ngươi!
  Những kẻ thờ Kê-mốt đã bị hủy diệt.
  Vì con trai các ngươi đã bị bắt làm tù binh,
   con gái các ngươi bị đi đày.
  Nhưng trong những ngày sắp đến,
   ta sẽ phục hồi của cải cho Mô-áp,”
   CHÚA phán vậy.
 Đến đây chấm dứt sự đoán phạt cho Mô-áp.

…………………..

 

Chương bốn mươi chín.

Lời tiên tri về Am-môn

 Sau đây là lời tiên tri về dân Am-môn. CHÚA phán:
  “Ngươi nghĩ rằng Ít-ra-en không có con cái sao?
  Ngươi cho rằng không có ai thừa kế đất đai
   khi cha mẹ qua đời sao?
  Nếu vậy tại sao Mô-léc chiếm lấy đất Gát
   và dân Mô-léc định cư trong các thành Gát?”
  CHÚA phán, “Đến lúc ta sẽ khiến dân cư ở Ráp-ba, thủ đô của Am-môn nghe tiếng chiến trận.
  Nó sẽ trở thành đồi gạch vụn điêu tàn,
   còn các thị trấn quanh nó sẽ bị thiêu đốt.
  Chúng đã đuổi dân Ít-ra-en ra khỏi xứ đó,
   nhưng nay Ít-ra-en sẽ đuổi chúng ra!”
  CHÚA phán vậy.
  “Hỡi dân thành Hết-bôn,
   hãy kêu khóc buồm thảm
   vì thành A-hi đã bị tiêu diệt rồi!
  Hỡi những kẻ sống ở Ráp-ba,
   hãy khóc lóc thảm thiết đi!
  Hãy mặc vải sô để bày tỏ nỗi buồn của mình và kêu khóc đi.
  Hãy chạy đây đó tìm nơi trú ẩn trong vách,
   vì Mô-léc sẽ bị bắt làm tù binh
   cùng với các thầy tế lễ và các viên chức nó.
  Ngươi khoe khoang về sức mạnh mình,
   nhưng sức lực ngươi đã tiêu hao rồi.
  Ngươi tin tưởng rằng của cải mình
   sẽ giải cứu mình.
  Ngươi tự nhủ, ‘Ai dám tấn công ta?’
  Ngươi phải biết rằng ta sắp mang kinh hoàng
   đến cho ngươi,
   từ mọi người sống quanh ngươi,”
  CHÚA Toàn Năng phán vậy.
  “Ngươi sẽ phải bỏ chạy,
   không ai gom ngươi lại.
  Dân Am-môn sẽ bị bắt làm tù binh.
  Nhưng đến thời điểm
   ta sẽ mang dân Am-môn về.”
   CHÚA phán vậy.

Lời tiên tri về Ê-đôm

 Lời tiên tri về Ê-đôm. CHÚA Toàn Năng phán như sau:
  “Trong thành Thê-man không còn sự khôn ngoan nữa hay sao?
  Những người khôn ngoan trong Ê-đôm
   không còn sáng kiến gì hay sao?
  Họ đã hết khôn ngoan rồi sao?
  Hỡi các ngươi là những kẻ sống
   trong thành Đê-đan,
  hãy chạy trốn trong các hang sâu,
   vì ta sẽ giáng đại họa lên dân Ê-sau.
  Đến lúc ta phải trừng phạt chúng.
  Ai hái trái nơi các dây nho ngươi
   cũng chừa lại một số.
  Nếu kẻ trộm đến ban đêm,
   chúng cũng chỉ đánh cắp đủ dùng.
  Nhưng ta sẽ lột trần Ê-đôm.
  Ta sẽ tìm ra hết những nơi trú ẩn của nó,
   để nó không thể trốn tránh khỏi ta.
  Con cái, thân nhân và láng giềng đều sẽ chết,
   Ê-đôm sẽ bị tuyệt diệt.
  Hãy để yên các trẻ mồ côi,
   ta sẽ chăm sóc chúng.
   Còn các người goá bụa của ngươi
   có thể tin cậy nơi ta.”
 CHÚA phán: “Ngươi phải biết rằng, có người không đáng bị trừng phạt mà vẫn phải uống chén đau khổ. Hỡi dân cư Ê-đôm, các ngươi đáng phạt, cho nên ngươi sẽ không tránh khỏi bị phạt. Ngươi chắc chắn phải uống chén đau khổ.” CHÚA phán, “Ta lấy danh ta mà thề rằng thành Bốt-ra sẽ thành đống gạch vụn! Người ta sẽ sửng sốt khi nhìn thấy cảnh đó. Họ sẽ sỉ nhục thành đó và nói xấu nó. Còn các thị trấn xung quanh đó sẽ bị điêu tàn đời đời.”
  Ta có lời phán của CHÚA.
  Một sứ giả được sai đến các dân
   với mệnh lệnh như sau,
  “Hãy tập họp quân đội ngươi và tấn công nó!
   Hãy sẵn sàng chiến đấu!”
  “Ta sắp biến ngươi thành dân tộc bé nhỏ nhất,
   mà ai cũng ghét.
  Hỡi Ê-đôm, ngươi đã làm các dân tộc khác kinh hoảng,
   nhưng sự kiêu căng ngươi đã gạt ngươi.
  Ngươi sống trong các hang hốc nơi ghềnh đá
   và kiểm soát các đồi cao.
  Dù cho ngươi xây nhà nơi cao như tổ chim ưng,
   ta cũng sẽ kéo ngươi xuống,”
  CHÚA phán vậy.
  “Ê-đôm sẽ bị tiêu diệt.
  Kẻ qua người lại sẽ sửng sốt
   khi nhìn thấy các thành bị tiêu hủy,
   và kinh ngạc về những vết thương nó.
  Ê-đôm sẽ bị hủy diệt như hai thành
   Xô-đôm và Gô-mô-rơ
   và các thị trấn quanh đó,” CHÚA phán vậy.
  “Sẽ không ai ở đó!
   Không còn ai ở trong Ê-đôm nữa.”
 “Như sư tử từ bụi rậm gần sông Giô-đanh bước ra xông vào chuồng vững chắc để bắt chiên, ta sẽ bất thần đánh đuổi Ê-đôm ra khỏi xứ nó. Ai là người ta chọn để làm việc nầy? Không ai giống như ta, chẳng ai lôi ta ra tòa được. Không có lãnh tụ nào địch lại ta nổi.”
  Cho nên hãy nghe điều CHÚA dự định
   nghịch cùng Ê-đôm.
  Hãy nghe điều Ngài nhất quyết
   làm cho dân thành Thê-man.
  Ngài chắc chắn sẽ lôi các bọn trẻ
   của Ê-đôm đi.
  Quê quán chúng sẽ sửng sốt
   khi nhìn thấy số phận chúng.
  Nghe tiếng Ê-đôm sụp đổ,
   đất liền rung chuyển.
  Tiếng kêu khóc của chúng
   sẽ vang đến tận Hồng hải.
  CHÚA sẽ như chim ưng lao xuống vồ mồi,
   và giương cánh ra trên thành Bốt-ra.
  Lúc ấy các binh sĩ Ê-đôm sẽ đâm ra hoảng sợ,
   như đàn bà sắp sinh đẻ.

Lời tiên tri về Đa-mách

 Đây là lời tiên tri về thành Đa-mách:
  “Các thị trấn Ha-mát và Ác-bát bị sỉ nhục,
   vì chúng đã nghe tin chẳng lành.
  Chúng đâm ra hoảng sợ.
   Chúng bị xao xuyến như biển động.
  Thành Đa-mách đã suy yếu.
   Dân chúng muốn trốn chạy;
  Mọi người đâm ra hốt hoảng.
   Họ cảm thấy đau đớn và khổ sở,
  như đàn bà sắp sinh con.
  Đa-mách xưa là thành ta vui thích.
   Tại sao dân chúng chưa rời thành nổi tiếng ấy?
  Các trai tráng nó chắc chắn sẽ chết
   trong công viên,
  và tất cả các binh sĩ nó
   sẽ bị giết vào lúc đó,”
  CHÚA Toàn Năng phán vậy.
  “Ta sẽ đốt các vách thành Đa-mách,
   lửa sẽ thiêu rụi các thành kiên cố
   của vua Bên-Ha-Đát.”

Lời tiên tri về Kê-đa và Hát-xo

 Sau đây là lời tiên tri về chi tộc Kê-đa và các nước của Hát-xo mà Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã đánh bại. CHÚA phán:
  “Hãy đến tấn công dân Kê-đa,
   tiêu diệt dân miền Đông.
  Các lều và bầy súc vật của chúng
   sẽ bị cướp đoạt.
  Tài sản chúng sẽ bị mang đi:
   lều, của cải, và lạc đà.
  Người ta sẽ kêu chúng nghe rằng,
   ‘Kinh hoàng tứ phía!’
  Hãy chạy nhanh lên!
   Hỡi dân cư Hát-xo, hãy kiếm chỗ trốn đi!” CHÚA phán vậy.
  “Vì Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn
   đã âm mưu nghịch ngươi,
   người muốn đánh bại ngươi.
  Hãy đứng dậy tấn công dân đang sống thoải mái,
   yên trí rằng không ai đánh thắng mình nổi,” CHÚA phán vậy.
  “Nó không có cổng hay rào để bảo vệ mình.
  Dân cư nó sống lẻ loi.
  Quân thù sẽ đánh cắp các lạc đà của chúng,
   cướp các bầy súc vật đông đảo của chúng làm chiến lợi phẩm.
  Ta sẽ phân tán dân cắt tóc ngắn ra khắp đất,
   và mang thảm họa cho chúng từ bốn phương,” CHÚA phán vậy.
  “Thành Hát-xo sẽ trở thành hang của chó rừng;
   nó sẽ biến thành sa mạc hoang vu đời đời.
  Sẽ không có ai ở đó,
   không ai trú trong thành đó.”

Lời tiên tri về Ê-lam

 Ít lâu sau khi Xê-đê-kia lên ngôi vua Giu-đa thì CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Đây là lời tiên tri nghịch cùng dân Ê-lam.
  CHÚA Toàn Năng phán:
   “Ta sắp bẻ gãy cây cung của Ê-lam,
   tức sức mạnh vô song của nó.
  Ta sẽ mang bốn gió nghịch lại Ê-lam từ bốn góc trời.
  Ta sẽ phân tán dân nó ra khắp bốn hướng gió;
   tù binh nó sẽ tản lạc khắp các nước.
  Ta sẽ khiến cho Ê-lam hoảng sợ
   trước mặt kẻ thù mình,
   là những kẻ muốn tiêu diệt chúng.
  Ta sẽ mang thảm họa đến cho Ê-lam
   để chứng tỏ cơn thịnh nộ ta!” CHÚA phán vậy.
  “Ta sẽ sai gươm đuổi Ê-lam
   cho đến khi ta đã giết sạch chúng nó.
  Ta sẽ lập ngôi ta trong Ê-lam
   để chứng tỏ ta là vua,
   ta sẽ tiêu diệt vua
   và quần thần nó!” CHÚA phán vậy.
  “Nhưng trong tương lai
   ta sẽ phục hồi Ê-lam,” CHÚA phán vậy.

…………….

 

Chương năm mươi.

Lời tiên tri nghịch cùng Ba-by-lôn

 Đây là lời tiên tri CHÚA phán nghịch cùng Ba-by-lôn và dân cư nó qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
  “Hãy loan báo điều nầy cho các dân.
   Hãy giương cờ lên và nói cho chúng biết.
  Hãy tuyên bố hết các lời nầy như sau:
   ‘Ba-by-lôn sẽ bị chiếm cứ.
  Thần Bên sẽ bị sỉ nhục,
   và thần Mạc-đúc sẽ hoảng sợ.
  Các thần của Ba-by-lôn sẽ bị sỉ nhục,
   và các thần tượng nó sẽ kinh hoàng!
  Vì một dân từ phương Bắc sẽ tấn công Ba-by-lôn
   biến nó thành sa mạc hoang vu.
  Không ai ở đó,
   cả người lẫn thú vật đều bỏ chạy.’”
  CHÚA phán, “Lúc ấy,
   dân Ít-ra-en và Giu-đa sẽ họp nhau lại.
  Họ sẽ kêu khóc và tìm kiếm CHÚA
   là Thượng Đế mình.
  Họ sẽ hỏi thăm lối đi đến Giê-ru-sa-lem
   rồi đi theo hướng đó.
  Họ sẽ cùng nhau họp lại cho CHÚA.
   Họ sẽ lập giao ước đời đời với Ngài,
   một giao ước sẽ không bao giờ bị quên lãng.
  Dân ta như chiên đi lạc.
   Các lãnh tụ chúng đã hướng dẫn chúng đi lầm lạc
  khiến chúng đi lang thang quanh các núi đồi.
   Chúng quên nơi nghỉ ngơi của mình.
  Ai thấy dân ta cũng làm hại chúng.
   Còn các kẻ thù thì bảo,
  ‘Chúng ta đâu có làm gì quấy.
   Vì dân ta đã phạm tội cùng CHÚA,
  nơi an nghỉ thật của chúng,
   là Thượng Đế mà tổ tiên chúng tin cậy.’
  Hãy chạy trốn khỏi Ba-by-lôn,
   ra khỏi xứ người Ba-by-lôn.
   Như dê dẫn bầy súc vật.
  Ta sắp mang các dân miền Bắc
   nghịch lại Ba-by-lôn.
  Chúng sẽ vào vị trí chuẩn bị tấn công nó,
   và nó sẽ bị các dân miền Bắc bắt đi.
  Các mũi tên nó như các binh sĩ tinh nhuệ
   chẳng khi nào từ mặt trận mà trở về tay không.
  Các kẻ thù sẽ chiếm đoạt tài sản
   của dân Ba-by-lôn.
  Chúng sẽ tha hồ lấy,” CHÚA phán vậy.
  “Hỡi Ba-by-lôn, ngươi thích thú và hớn hở,
   vì ngươi chiếm xứ ta.
  Ngươi nhảy múa như bò cái tơ nơi bồn lúa.
   Tiếng cười của ngươi như ngựa đực hí.
  Mẹ ngươi sẽ xấu hổ;
   người sinh ra ngươi sẽ bị sỉ nhục.
  Chẳng bao lâu nữa Ba-by-lôn
   sẽ trở thành dân thấp kém nhất trong các dân.
  Nó sẽ trở thành sa mạc hoang vu, khô cằn.
  Vì CHÚA nổi giận, cho nên không ai sống ở đó.
   Nó sẽ hoàn toàn bị hoang vu.
  Người qua kẻ lại nơi Ba-by-lôn sẽ sửng sốt.
   Họ sẽ lắc đầu khi nhìn thấy các vết thương nó.
  Hỡi các binh sĩ mang cung tên,
   hãy bước vào vị trí chiến đấu nghịch Ba-by-lôn.
  Hãy bắn tên các ngươi vào Ba-by-lôn!
  Đừng để dành lại gì cả,
   vì Ba-by-lôn đã phạm tội cùng CHÚA.
  Hỡi các binh sĩ quanh Ba-by-lôn,
   hãy reo tiếng chiến trận!
  Ba-by-lôn đã đầu hàng rồi, các tháp nó đã đổ xuống,
   các vách nó đã bị phá sập.
  CHÚA đã trừng phạt dân cư nó
   tương xứng với tội lỗi nó.
  Các dân hãy giáng cho nó điều nó đáng lãnh;
  Hãy làm cho nó như nó đã làm cho người khác.
  Đừng để dân Ba-by-lôn trồng trọt
   hay gặt hái.
  Vì các binh sĩ nó đã ngược đãi tù binh.
  Bây giờ hãy để mọi người trở về.
   Ai nấy hãy về xứ mình.
  Dân Ít-ra-en giống như bầy chiên tan lạc
   bị sư tử săn đuổi.
  Con sư tử đầu tiên ăn nuốt chúng là vua A-xy-ri.
  Con sư tử cuối cùng ngấu nghiến xương chúng
   là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn.”
  Vì thế CHÚA Toàn Năng,
   Thượng Đế của Ít-ra-en phán:
  “Ta sẽ trừng phạt vua Ba-by-lôn và xứ nó
   như ta đã trừng phạt A-xy-ri.
  Nhưng ta sẽ mang dân Ít-ra-en
   trở về đồng cỏ mình.
  Chúng sẽ ăn trên núi Cạt-mên và Ba-san.
   Chúng sẽ ăn no nê
  trên các đồi Ép-ra-im và Ghi-lê-át.”
  CHÚA phán,
  “Lúc ấy, người ta sẽ đi tìm tội của Ít-ra-en, nhưng không tìm được.
  Họ sẽ kiếm lỗi của Giu-đa,
   nhưng chẳng thấy đâu,
  vì ta sẽ chừa lại một số dân sống sót
   trong Ít-ra-en và Giu-đa
  và ta sẽ tha thứ tội lỗi chúng.
  Hãy tấn công xứ Mê-ra-tha-im.
   Hãy đánh dân sống ở Bê-cốt.
  Hãy rượt đuổi, đánh giết
   và tận diệt chúng.
  Hãy làm mọi điều ta truyền dặn các ngươi!”
   CHÚA phán vậy.
  “Tiếng chiến trận có thể nghe khắp xứ;
   đó là tiếng phá hủy khắp nơi.
  Ba-by-lôn trước kia là búa của cả đất,
   nhưng nay búa đó đã gãy cán.
  Xứ đó điêu tàn nhất trong các xứ.
  Hỡi Ba-by-lôn, ta đã giăng bẫy cho ngươi,
   ngươi sẽ bị sập bẫy trước khi ngươi biết.
  Ngươi chiến đấu chống CHÚA,
   nên ngươi bị khám phá và bị bắt làm tù binh.
  CHÚA đã mở kho Ngài
   và mang ra các vũ khí
   của cơn thịnh nộ Ngài,
  vì CHÚA Toàn Năng phải ra tay
   trong xứ dân Ba-by-lôn.
  Từ xa hãy đến đánh Ba-by-lôn.
   Hãy mở toang các kho ngũ cốc của nó.
  Hãy chất các xác chết nó như đống lúa.
  Hãy tận diệt Ba-by-lôn
   đừng để ai sống sót.
  Hãy giết tất cả các trai tráng trong Ba-by-lôn;
   hãy giết chúng như thú vật.
  Khốn thay cho chúng
   vì đến lúc chúng bị đánh bại;
  đến lúc chúng bị trừng phạt.
  Hãy lắng nghe tiếng người chạy thoát
   khỏi xứ Ba-by-lôn!
  Họ bảo cho Giê-ru-sa-lem biết
  CHÚA là Thượng Đế chúng ta
   đang trừng phạt Ba-by-lôn
  xứng đáng với tội phá hủy đền thờ Ngài.
  Hãy gọi các lính bắn cung
   đến chống nghịch Ba-by-lôn.
  Bảo họ vây thành đó,
   đừng để ai trốn thoát.
  Hãy báo trả nó về điều nó làm;
  Hãy làm cho nó
   như nó đã làm cho các dân khác.
  Vì Ba-by-lôn đã hành động kiêu căng
   nghịch lại CHÚA,
  Đấng thánh của Ít-ra-en.
  Cho nên các trai tráng nó sẽ bị giết
   trong các đường phố nó.
  Tất cả các chiến sĩ nó đều sẽ chết
   trong ngày đó,” CHÚA phán vậy.
  “Hỡi Ba-by-lôn, vì ngươi quá tự phụ cho nên ta nghịch ngươi,”
  CHÚA Toàn Năng phán vậy.
   “Ngươi phải biết rằng đến lúc ngươi phải bị trừng phạt,
  Ba-by-lôn kiêu ngạo sẽ vấp ngã,
   không ai đỡ dậy.
  Ta sẽ châm lửa trong các thành nó,
   thiêu hết mọi vật quanh nó.”
  CHÚA Toàn Năng phán như sau:
  “Dân Ít-ra-en và Giu-đa là tôi mọi.
   Kẻ thù bắt chúng làm tù binh,
   không chịu thả ra.
  Nhưng Thượng Đế rất mạnh
   nên sẽ chuộc chúng lại.
  Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
   Ngài chắc chắn sẽ dùng quyền năng mình bảo vệ chúng, để ban cho xứ sự an nghỉ.
  Nhưng Ngài sẽ không ban sự yên nghỉ
   cho những kẻ sống trong Ba-by-lôn.”
  CHÚA phán,
  “Hãy để gươm giết những kẻ sống trong Ba-by-lôn
   cùng các quan chức
   và các người khôn ngoan của nó!
  Hãy cho gươm giết các tiên tri giả của nó,
   để chúng trở nên ngu dại.
  Hãy để gươm giết các chiến sĩ nó,
   thì chúng sẽ kinh hoàng.
  Hãy để gươm giết ngựa và quân xa
   cùng các lính đánh thuê từ các nước khác.
  Rồi chúng sẽ kinh khiếp như đàn bà.
   Hãy để gươm tấn công các kho tàng nó, để người ta cướp chúng đi.
  Hãy để gươm tấn công các nguồn nước nó
   để chúng bị khô cạn.
  Nó là xứ của thần tượng,
   toàn dân bị điên dại vì chúng.
  Các thú rừng và các con linh cẩu sẽ sống ở đó,
   chim cú sẽ làm tổ nơi ấy,
   nhưng sẽ không có ai sống ở đó cả.
   Sẽ không bao giờ có ai ở đó nữa.
  CHÚA đã tiêu diệt hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ
   cùng các thị trấn quanh đó,” CHÚA phán vậy.
  “Cũng vậy, sẽ không còn ai ở trong Ba-by-lôn,
   không một ai ở đó cả.
  Kìa! Một đạo quân đang kéo đến từ phương Bắc.
  Một dân tộc hùng mạnh và các vua
   đang nhóm họp tại từ khắp nơi trên thế giới.
  Các đạo quân ấy có cung và giáo.
   Các chiến sĩ rất hung bạo
   và không biết thương xót.
  Khi chúng cỡi ngựa đến,
   thì nghe như tiếng biển gầm thét.
  Chúng đứng vào vị thế sẵn sàng chiến đấu.
  Hỡi thành Ba-by-lôn, chúng sẵn sàng tấn công ngươi.
  Vua Ba-by-lôn nghe về những đạo quân đó,
   thì bủn rủn vì sợ.
  Cơn kinh khiếp chụp bắt người,
   Như sự đau đớn của người đàn bà sắp sinh nở.
  Như sư tử từ bụi rậm
   gần sông Giô-đanh bước ra
  xông vào chuồng vững chắc để bắt chiên,
   ta sẽ bất thần đánh đuổi Ba-by-lôn
   ra khỏi xứ chúng nó.
  Ai là người ta chọn để làm việc nầy?
   Không ai giống như ta,
  chẳng ai lôi ta ra tòa được.
   Không có lãnh tụ nào địch lại ta nổi.”
  Cho nên hãy nghe điều CHÚA
   dự định làm nghịch lại Ba-by-lôn.
  Hãy nghe điều Ngài đã quyết định làm
   cho dân thành Ba-by-lôn.
  Ngài chắc chắn sẽ lôi các trai tráng
   của Ba-by-lôn đi.
  Quê quán chúng nó sẽ kinh hoàng
   khi nhìn thấy số phận chúng nó.
  Khi nghe Ba-by-lôn bị chiếm,
   đất sẽ rung chuyển.
  Dân chúng các nước sẽ nghe
   tiếng kêu tuyệt vọng của Ba-by-lôn.

…………………

 

Chương năm mươi mốt.

CHÚA phán:
  “Ta sắp mang gió tiêu diệt thổi đến
   nghịch cùng dân Ba-by-lôn.
  Ta sẽ sai dân ngoại quốc
   đến tiêu diệt Ba-by-lôn
   như gió thổi trấu bay đi.
  Chúng sẽ tiêu diệt xứ,
  Các đạo quân sẽ vây thành
   khi ngày tai họa xảy đến cho chúng.
  Đừng cho quân lính Ba-by-lôn
   chuẩn bị cung tên để bắn.
  Đừng để chúng khoác áo giáp vào.
  Chớ tội nghiệp cho các trai tráng Ba-by-lôn,
   nhưng hãy tận diệt quân đội nó.
  Chúng sẽ bị giết trong xứ Ba-by-lôn
   và ngã chết trong các đường phố mình.
  CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng
   không lìa bỏ Ít-ra-en và Giu-đa,
   mặc dù chúng hoàn toàn có tội
   trước mặt Đấng Thánh của Ít-ra-en.
  Hãy chạy trốn khỏi Ba-by-lôn
   để cứu mạng!
  Chớ nán lại mà bị giết oan
   vì tội lỗi của Ba-by-lôn.
  Đã đến lúc CHÚA trừng phạt Ba-by-lôn;
   Ngài sẽ trừng phạt nó tương xứng với tội lỗi nó.
  Ba-by-lôn như chén vàng trong tay CHÚA,
   chén đã khiến cả đất say sưa.
  Các dân tộc uống rượu của Ba-by-lôn
   và đi lạng quạng.
  Ba-by-lôn bị sụp đổ và bẻ gãy bất thần.
   Hãy kêu khóc cho nó!
  Hãy lấy dầu xức chỗ đau nó,
   may ra nó sẽ được lành.
  Các dân ngoại quốc ở Ba-by-lôn nói,
   ‘Chúng tôi tìm cách chữa trị Ba-by-lôn
   nhưng nó không thể lành được.
  Cho nên chúng tôi đành phải về xứ mình.
  Sự trừng phạt Ba-by-lôn thấu đến trời;
   lên đến tận mây.’
  Dân Giu-đa nói, ‘CHÚA chứng tỏ chúng ta đúng.
  Hãy đến Giê-ru-sa-lem thuật lại điều CHÚA là Thượng Đế chúng ta đã làm.’
  Hãy mài tên cho bén!
   Hãy nhấc thuẫn của ngươi lên!
  CHÚA đã giục giã các vua của Mê-đi,
   vì Ngài muốn tiêu diệt Ba-by-lôn.
  CHÚA sẽ trừng phạt chúng
   cho xứng với tội hủy phá đền thờ Ngài.
  Hãy giương cờ lên trên các vách thành Ba-by-lôn!
   Hãy mang thêm các lính gác.
  Hãy đặt lính gác vào vị trí,
   sẵn sàng đánh úp!
  CHÚA chắc chắn sẽ thi hành điều Ngài dự định
   và điều Ngài tuyên bố
   sẽ làm nghịch lại Ba-by-lôn.
  Hỡi dân Ba-by-lôn, các ngươi sống gần nước,
   và có lắm của cải,
   nhưng quốc gia các ngươi đã tận số rồi.
  Mạng sống ngươi bị cắt đứt.
  CHÚA Toàn Năng đã nhân danh mình
   mà thề rằng: ‘Hỡi Ba-by-lôn,
  ta sẽ khiến các binh sĩ thù nghịch tràn ngập ngươi,
   chúng đông như cào cào.
  Chúng sẽ đứng trên ngươi
   reo hò chiến thắng.’
  CHÚA đã dùng quyền năng Ngài dựng nên trái đất.
  Ngài dùng sự khôn ngoan mình
   tạo nên thế giới
  và dùng sự hiểu biết Ngài giăng các bầu trời ra.
  Khi Ngài gầm lên, các nguồn nước trên trời vang động.
   Ngài khiến sương mù bốc lên từ các góc đất.
  Ngài sai chớp đến với mưa
   và mang gió ra từ các kho chứa của Ngài.
  Dân chúng kém hiểu biết và ngu dại.
  Các thợ bạc xấu hổ vì các tượng chạm mình,
   bởi chúng chỉ là các thần giả,
   không có hơi thở.
  Chúng không có giá trị gì;
   người ta chế giễu chúng.
  Khi đem ra phân xử,
   chúng sẽ bị tiêu diệt.
  Nhưng Thượng Đế, Ngài là gia tài của Gia-cốp,
   không giống như các tượng chạm.
  Ngài làm nên mọi thứ,
   và chọn Ít-ra-en làm dân riêng cho mình.
  Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
  Các ngươi là gậy chiến tranh của ta,
   là khí giới đánh giặc của ta.
  Ta dùng ngươi để đập nát các dân.
   Ta dùng ngươi để tiêu diệt các vương quốc.
  Ta dùng ngươi để đè bẹp ngựa và người cỡi.
  Ta dùng ngươi để chà nát quân xa
   và người điều khiển.
  Ta dùng ngươi để chà nát đàn ông, đàn bà, người già và người trẻ.
  Ta dùng ngươi để đè bẹp thanh niên, thiếu nữ.
  Ta dùng ngươi để chà nát kẻ chăn và bầy chiên.
   Ta dùng ngươi để chà đạp nông phu và trâu bò.
  Ta dùng ngươi để chà đạp các tổng trấn và các quan quyền.
  Nhưng ta sẽ báo trả Ba-by-lôn
   và tất cả dân cư nó về những điều ác chúng làm cho Giê-ru-sa-lem trước mắt ngươi,”
  CHÚA phán vậy.
  CHÚA phán,
  “Hỡi Ba-by-lôn, ngươi là hòn núi phá hủy,
   ta nghịch ngươi.
  Ngươi đã tiêu diệt cả xứ.
  Ta sẽ giơ tay ra nghịch ngươi.
  Ta sẽ xô ngươi xuống vực thẳm,
   và khiến ngươi trở thành một hòn núi
   bị cháy đen.
  Sẽ không ai tìm được trong Ba-by-lôn
   tảng đá nào đủ lớn để làm đá góc nhà nữa.
  Người ta sẽ không còn lấy đá từ Ba-by-lôn
   để làm nền nhà,
   vì thành của ngươi chỉ là
   một đống đổ nát đời đời,” CHÚA phán vậy.
  “Hãy giương cờ trên xứ!
   Hãy thổi kèn giữa các dân!
  Hãy chuẩn bị các dân để đánh Ba-by-lôn.
  Hãy gọi các nước A-ra-rát, Mi-ni,
   và Ách-kê-nát để đánh nó.
  Hãy chọn một viên tư lệnh
   chỉ huy đạo quân đánh Ba-by-lôn.
  Hãy đưa ngựa ra đông vô số như cào cào.
  Hãy chuẩn bị các dân đánh Ba-by-lôn:
   các vua Mê-đi, các quan tổng trấn
  và quần thần chúng,
   cùng mọi nước mà chúng thống trị.
  Đất rung chuyển và quằn quại đau đớn,
   vì CHÚA sẽ ra tay
   làm điều Ngài đã dự định cho Ba-by-lôn.
  Ngài sẽ biến Ba-by-lôn thành sa mạc hoang vu, không ai ở.
  Các chiến sĩ Ba-by-lôn đã ngưng đánh giặc.
   Chúng rút vào trong các thành kiên cố.
  Sức mạnh chúng không còn,
   Chúng hoảng hốt như đàn bà.
  Nhà cửa Ba-by-lôn đang bốc cháy.
   Các thanh cài cổng chúng đã gãy.
  Hết sứ giả nầy đến sứ giả khác;
   sứ giả nầy tiếp theo sứ giả kia.
  Chúng loan báo cho vua Ba-by-lôn biết
   rằng cả thành đã bị chiếm.
  Các chỗ băng qua sông đã bị chiếm,
   và các đầm lầy đang bốc cháy.
   Tất cả các chiến sĩ của Ba-by-lôn kinh hoảng.”
  Đây là điều CHÚA Toàn Năng,
  Thượng Đế của Ít-ra-en phán:
   “Thành Ba-by-lôn như sân đập lúa,
  nơi dân chúng đạp lúa lúc mùa gặt.
   Sắp đến kỳ gặt hái Ba-by-lôn rồi.
  Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã đánh bại
   và tiêu diệt chúng ta.
  Trước kia người bắt dân ta đi đày,
   chúng ta như bình trống không.
  Người như con trăn khổng lồ
   nuốt sống chúng ta.
  Người ăn no nê những vật tốt nhất của chúng ta,
   rồi nhả chúng ta ra.
  Ba-by-lôn đã làm những việc ghê gớm
   để hại chúng ta.
  Bây giờ hãy để Ba-by-lôn lãnh lại
   những việc đó,” dân cư Giê-ru-sa-lem nói vậy.
  “Dân Ba-by-lôn đã giết hại dân ta.
   Bây giờ hãy để chúng bị trừng phạt
  cho xứng với những điều chúng làm,”
   Giê-ru-sa-lem nói vậy.
  CHÚA Toàn Năng phán như sau:
  “Hỡi Giu-đa, ta sắp bảo vệ ngươi
   và chắc chắn trừng phạt Ba-by-lôn.
  Ta sẽ làm biển Ba-by-lôn khô cạn
   và các suối nước nó cạn khô.
  Ba-by-lôn sẽ trở thành đống đổ nát,
   nơi ở của chó rừng.
  Người ta sẽ kinh hoảng khi nhìn thấy điều đó.
   Sẽ không còn ai ở đó nữa.
  Dân chúng Ba-by-lôn gầm lên như sư tử tơ;
   chúng gầm gừ như sư tử con.
  Chúng hành động như sư tử hung hăng.
   Ta sẽ cho chúng ăn no nê
   và khiến chúng say sưa.
  Chúng sẽ la hét và cười đùa.
  Chúng sẽ an giấc ngàn thu,
   không bao giờ thức dậy nữa!” CHÚA phán vậy.
  “Ta sẽ khiến dân Ba-by-lôn bị giết.
   Chúng sẽ như chiên con,
   như chiên và dê sắp bị làm thịt.
  Hãy xem Sê-sắc đã bị thảm bại!
  Niềm kiêu căng của cả thế gian
   đã bị bắt làm tù binh.
  Dân chúng các quốc gia khác sửng sốt
   khi nhìn thấy số phận Ba-by-lôn,
  và những gì họ nhìn thấy khiến họ sợ hãi.
  Biển đã dậy lên trên Ba-by-lôn;
   các luồng sóng ầm ầm bao phủ nó.
  Các tỉnh thành của Ba-by-lôn
   đã bị điêu tàn và hoang vu.
  Nó đã trở thành xứ khô khan,
   hoang dại không ai ở.
  Người ta không thèm đi qua Ba-by-lôn nữa.
  Ta sẽ trừng phạt thần Bên của Ba-by-lôn.
   Ta sẽ khiến nó mửa ra điều nó đã ăn nuốt.
  Các dân sẽ không đến Ba-by-lôn nữa;
   ngay đến vách bao quanh thành
   cũng sẽ đổ xuống.
  Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn!
   Hãy chạy cứu mạng!
  Hãy chạy trốn khỏi cơn thịnh nộ CHÚA.
  Đừng nản lòng;
   sẽ có tiếng đồn ra khắp xứ,
   nhưng đừng sợ.
  Năm nay có tiếng đồn nầy,
   sang năm có tiếng đồn khác.
  Sẽ có tiếng đồn về cuộc đánh nhau
   khủng khiếp trong xứ,
  các quan quyền đánh lẫn nhau.
  Đến lúc ta chắc chắn trừng phạt
   các tượng chạm của Ba-by-lôn,
  cả xứ sẽ bị sỉ nhục.
   Sẽ có vô số người chết nằm la liệt.
  Rồi trời và đất cùng mọi vật trên đất
   sẽ mừng rỡ về Ba-by-lôn.
  Chúng sẽ la lên vì đạo quân
   từ phương Bắc kéo đến
  để tiêu diệt Ba-by-lôn,” CHÚA phán vậy.
  “Ba-by-lôn phải đổ, vì nó giết dân Ít-ra-en.
   Nó giết mọi dân trên đất.
  Hỡi các ngươi là những kẻ thoát chết
   khỏi lưỡi gươm,
   hãy rời Ba-by-lôn ngay! Đừng chần chờ!
  Hãy nhớ lại CHÚA từ nơi xa xôi
   và hãy suy nghĩ về Giê-ru-sa-lem.”
  “Chúng ta là dân Giu-đa đã bị nhuốc nhơ,
   vì chúng ta đã bị sỉ nhục.
  Chúng ta đã bị xấu hổ,
   vì người lạ đã vào trong nơi thánh
   của đền thờ Chúa!”
  Vì thế CHÚA phán,
  “Sắp đến lúc ta sẽ trừng phạt
   các tượng chạm của Ba-by-lôn.
  Những kẻ bị thương sẽ kêu la khắp xứ đó.
  Dù cho Ba-by-lôn nổi lên cao đến tận trời,
   dù cho nó củng cố các thành phố cao nhất của nó,
  ta cũng sẽ sai người đến phá hủy nó,”
   CHÚA phán vậy.
  “Ở Ba-by-lôn người ta nghe tiếng kêu khóc.
   Tiếng của kẻ hủy diệt vang lên
   trong xứ dân Ba-by-lôn.
  Vì CHÚA đang tiêu diệt Ba-by-lôn
   và làm im bặt tiếng huyên náo
   của thành phố.
  Các kẻ thù gầm thét tiến đến như vũ bão.
   Tiếng gầm thét của chúng vang lên khắp nơi.
  Vì một đạo quân đã đến tiêu diệt Ba-by-lôn.
  Các binh sĩ nó đã bị bắt,
   cung tên nó đã bị gãy,
   vì CHÚA là Thượng Đế trừng phạt
   người làm điều ác.
  Ngài trừng phạt họ tương xứng với tội lỗi họ.
  Ta sẽ khiến các quan quyền
   và những kẻ khôn ngoan Ba-by-lôn say rượu,
  cùng với các quan tổng trấn,
   sĩ quan và các binh sĩ.
  Rồi chúng sẽ an giấc ngàn thu
   không bao giờ dậy nữa,” Vua phán vậy,
  danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
  CHÚA Toàn Năng phán:
  “Vách dầy của Ba-by-lôn
   sẽ hoàn toàn bị phá sập,
  các cổng cao của nó sẽ bị cháy tiêu.
   Người ta sẽ ra sức nhưng vô ích;
   công việc chúng chỉ như dầu thêm vào lửa!”

Lời tiên tri về Ba-by-lôn

 Sau đây là lời nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với Sê-rai-gia, con Nê-ria, cháu Ma-a-sê-gia. Sê-rai-gia bị đày sang Ba-by-lôn cùng với Xê-đê-kia, vua Giu-đa vào năm thứ tư đời vua Xê-đê-kia, vua Giu-đa. Nhiệm vụ của ông là chuẩn bị thức ăn và nơi ở cho vua trong chuyến lưu đày đó. Giê-rê-mi đã ghi vào trong cuộn sách những việc kinh khiếp sẽ xảy đến cho Ba-by-lôn, tức tất cả những lời nầy về Ba-by-lôn. Giê-rê-mi bảo Sê-rai-gia, “Khi ngươi đến Ba-by-lôn hãy nhớ đọc những lời nầy cho mọi người đều nghe. Rồi nói rằng, ‘Lạy CHÚA, chính Ngài đã phán rằng Ngài sẽ tiêu diệt nơi nầy để không có người hay súc vật nào sống ở đó. Nó sẽ bị hoang vu đổ nát đời đời.’ Sau khi đọc xong cuộn sách nầy thì hãy lấy một tảng đá buộc vào nó và ném xuống sông Ơ-phơ-rát. Rồi nói, ‘Cũng vậy, Ba-by-lôn sẽ bị chìm không nổi lên được vì những điều kinh khiếp ta khiến xảy ra cho nơi nầy. Dân cư nó sẽ tiêu tan.’”
 Đến đây chấm dứt lời của Giê-rê-mi.

……………..

 

Chương năm mươi hai.

Thành Giê-ru-sa-lem thất thủ

 Xê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Ha-mu-tan, con gái Giê-rê-mi, quê quán ở Líp-na. Xê-đê-kia làm điều ác trước mặt CHÚA, như Giê-hô-gia-kim đã làm. Những điều đó diễn ra ở Giê-ru-sa-lem và Giu-đa vì CHÚA nổi thịnh nộ cùng họ. Cuối cùng Ngài ném họ ra khỏi mặt Ngài.
 Xê-đê-kia phản nghịch cùng vua Ba-by-lôn. Sau đó Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn kéo toàn quân đến Giê-ru-sa-lem. Chúng đóng quân và xây chiến lũy quanh thành để tấn công nó. Đó là ngày mười, tháng mười, năm thứ chín đời vua Xê-đê-kia. Thành bị vây hãm cho đến năm thứ mười một đời vua Xê-đê-kia.
 Đến ngày chín tháng tư, trong thành bị nạn đói khủng khiếp; không còn thực phẩm nữa. Rồi vách thành bị chọc thủng, toàn đạo quân Giu-đa thừa bóng đêm chạy trốn. Họ rời thành qua cổng nằm giữa hai vách gần vườn vua. Dù quân Ba-by-lôn đang vây thành, Xê-đê-kia và thuộc hạ chạy trốn về hướng thung lũng sông Giô-đanh.
 Nhưng đạo quân Ba-by-lôn đuổi theo vua Xê-đê-kia và bắt được ông ở đồng bằng Giê-ri-cô. Tất cả quân sĩ đều bỏ ông chạy tán loạn. Quân Ba-by-lôn bắt Xê-đê-kia giải đến vua Ba-by-lôn ở thành Ríp-ba trong xứ Ha-mát. Rồi vua tuyên án Xê-đê-kia tại đó. Tại Ríp-la, Vua Ba-by-lôn giết các con trai vua Xê-đê-kia ngay trước mắt ông. Vua cũng giết tất cả các viên chức của Giu-đa. Rồi vua móc mắt Xê-đê-kia, lấy xiềng sắt xích ông lại và giải qua Ba-by-lôn. Vua nhốt Xê-đê-kia trong tù cho đến ngày ông qua đời.
 Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ và là tôi tớ của vua Ba-by-lôn kéo đến Giê-ru-sa-lem vào ngày mười tháng năm. Đó là vào năm thứ mười chín đời Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Nê-bu-xa-ra-đan phóng hỏa đền thờ CHÚA, đốt cung vua và tất cả mọi nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem; các dinh thự quan trọng đều bị thiêu đốt. Toàn đạo quân Ba-by-lôn dưới quyền chỉ huy của viên tư lệnh toán cận vệ đặc biệt của vua phá sập tất cả mọi thành lũy quanh Giê-ru-sa-lem. Nê-bu-xa-ra-đan, viên tư lệnh của toán cận vệ đặc biệt của vua bắt làm tù binh một số người nghèo khổ nhất, những người còn sót lại Giê-ru-sa-lem, những kẻ đã ra đầu hàng vua Ba-by-lôn, và các thợ khéo còn lại tại Giê-ru-sa-lem. Nhưng ông chừa lại một số người nghèo khổ nhất trong xứ để chăm sóc vườn nho và đồng ruộng.
 Quân Ba-by-lôn đập nát các trụ đồng, đế đồng, và chậu đồng lớn còn gọi là cái Biển trong đền thờ CHÚA. Rồi họ mang các miếng đồng đó về Ba-by-lôn. Họ cũng mang các nồi, xẻng xúc, đồ hớt tim đèn, chén bát, dĩa, và các vật dụng bằng đồng dùng trong đền thờ. Viên tư lệnh của toán cận vệ đặc biệt của vua cũng mang đi các chén bát, chảo đựng than nóng, chậu lớn, nồi, chân đèn, chảo và các chén bát dùng trong của lễ uống. Ông cũng mang đi tất cả những gì làm bằng vàng hay bạc.
 Số lượng đồng quá nhiều đến nỗi không thể cân được: hai cây trụ, một chậu lớn bằng đồng gọi là cái Biển cùng với mười hai con bò đực đỡ bên dưới, các giá di động mà vua Sô-lô-môn đã làm cho đền thờ CHÚA.
 Mỗi một cây trụ cao chín thước, chu vi sáu thước, bên trong rỗng ruột. Bề dầy của mỗi trụ khoảng bảy phân. Chóp trụ của mỗi trụ cao khoảng một thước sáu. Phần nầy được trang trí bằng một màng lưới có các trái lựu đồng bao quanh. Trụ kia cũng có trái lựu và giống y như trụ thứ nhất. Có tất cả chín mươi sáu trái lựu bao quanh các trụ. Phía trên màng lưới có tất cả một trăm trái lựu.
 Viên chỉ huy của toán cận vệ đặc biệt của vua bắt Sê-rai-gia, thầy tế lễ cả, Xô-phô-ni, thầy tế lễ phụ tá và ba người giữ cửa. Ông cũng bắt mang đi khỏi thành phố viên sĩ quan lo về quân sĩ, bảy viên cố vấn vua, thư ký hoàng gia lo việc tuyển binh cho quân đội, và sáu mươi người nữa thuộc Giu-đa có mặt ở đó khi thành phố thất thủ. Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy bắt họ và giải đến trước vua Ba-by-lôn ở thành Ríp-la. Vua Ba-by-lôn giết họ và họ chết ở Ríp-la trong xứ Ha-mát.
 Vậy dân Giu-đa bị bắt làm tù binh và đày ra khỏi xứ mình. Sau đây là số tù binh Nê-bu-cát-nết-xa bắt mang đi:
 trong năm thứ bảy ba ngàn không trăm hai mươi ba người từ xứ Giu-đa.
 Năm thứ mười tám đời vua Nê-bu-cát-nết-xa: tám trăm ba mươi hai người từ Giê-ru-sa-lem;
 trong năm thứ hai mươi ba đời Nê-bu-cát-nết-xa, Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy toán cận vệ đặc biệt của vua bắt đi  người Do thái làm tù binh.
 Tổng cộng . người bị bắt làm tù binh.

Giê-hô-gia-kin được trả tự do

 Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa bị giam trong ngục ở Ba-by-lôn suốt ba mươi bảy năm. Vào năm Ê-vinh Mê-rô-đác lên ngôi vua Ba-by-lôn thì ông thả Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa ra khỏi ngục. Ông trả tự do cho Giê-hô-gia-kin vào ngày hai mươi lăm tháng mười hai. Ê-vinh Mê-rô-đác lấy lời tử tế nói cùng Giê-hô-gia-kin và cho ông một chỗ danh dự cao hơn các vua khác có mặt tại đó với ông ở Ba-by-lôn. Nên Giê-hô-gia-kin cởi quần áo tù của mình ra và được ăn chung bàn vua suốt đời ông. Mỗi ngày vua Ba-by-lôn ban cho Giê-hô-gia-kin một phần lương thực. Giê-hô-gia-kin được hưởng trợ cấp như vậy cho đến ngày ông qua đời.

……………………


No comments:

Post a Comment