Chương ba mươi mốt.
Nước Ít-ra-en mới
CHÚA phán, “Lúc đó ta sẽ làm Thượng Đế cho cả dòng họ Ít-ra-en,
họ sẽ làm dân ta.”
CHÚA
phán như sau:
“Những
người không bị giết bằng gươm của kẻ thù
nhận
được sự giúp đỡ trong sa mạc.
Ta
đến để ban cho Ít-ra-en sự nghỉ ngơi.”
Và
từ xa CHÚA hiện ra cùng dân Ngài và nói,
“Ta
yêu các ngươi bằng tình yêu còn đời đời.
Vì
thế ta đã luôn tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi.
Hỡi
dân Ít-ra-en, ta sẽ nâng đỡ các ngươi trở lại,
ngươi
sẽ được phục hưng.
Ngươi
sẽ lại cầm trống cơm
và
nhảy múa với những kẻ vui mừng.
Ngươi
sẽ lại trồng vườn nho
trên
các đồi quanh Xa-ma-ri.
Các
nông gia sẽ trồng nho và hưởng hoa quả.
Sẽ
đến lúc những lính canh
trong
vùng núi Ép-ra-im hô to như sau:
‘Chúng
ta hãy lên Giê-ru-sa-lem
để
thờ lạy CHÚA là Thượng Đế chúng ta!’”
Vì
CHÚA phán như sau:
“Hãy
vui mừng xướng hát cho dân Gia-cốp.
Hãy
la to lên cho Ít-ra-en,
dân
tộc nổi danh nhất trên thế gian.
Hãy
hát bài ca ngợi và la to lên như sau:
‘CHÚA
đã cứu dân Ngài,
là
những người còn sống sót
trong
quốc gia Ít-ra-en!’
Nầy,
ta sẽ mang Ít-ra-en về từ xứ miền Bắc,
và
gom họ lại từ các nơi xa xăm trên đất.
Một
số bị mù lòa và què quặt.
Một
số đàn bà đang mang thai,
một
số khác sắp sinh đẻ.
Nhiều
người sẽ trở về.
Họ
sẽ vừa về vừa khóc,
nhưng
họ sẽ cầu nguyện
khi
ta mang họ trở về.
Ta
sẽ dẫn dắt họ bên suối nước,
trên
đường bằng phẳng để họ không ngã té.
Vì
ta là cha của Ít-ra-en,
và
Ít-ra-en là con đầu lòng của ta.
Hỡi
các dân, hãy nghe lời CHÚA phán.
Hãy
thuật lại sứ điệp nầy
trong
các xứ duyên hải xa xôi.
‘Đấng
phân tán dân Ít-ra-en sẽ mang họ trở về,
và
Ngài sẽ coi sóc dân Ngài như người chăn chiên.’
Thật
vậy, CHÚA sẽ chuộc lại dân Gia-cốp
và
sẽ mang họ về từ những dân mạnh hơn họ.
Dân
Ít-ra-en sẽ đến trên đỉnh núi Xi-ôn
và
la hét vui mừng.
Gương
mặt họ sẽ sáng rỡ lên
với
vẻ hớn hở về những ơn lành từ CHÚA:
nào
ngũ cốc, rượu mới, dầu, chiên con, và bò con.
Họ
sẽ như vườn nhiều nước,
và
sẽ không gặp khốn khó nữa.
Lúc
đó các thiếu nữ Ít-ra-en
sẽ
vui mừng nhảy múa,
và
các thanh niên cùng người già cả cũng vậy.
Ta
sẽ biến sự buồn bã của họ ra vui mừng,
Ta
sẽ ban cho họ niềm yên ủi
và
vui mừng thay vì sầu não.
Các
thầy tế lễ sẽ có dư dật của lễ,
và
dân ta sẽ đầy dẫy những vật tốt
mà
ta ban cho!” CHÚA phán vậy.
CHÚA
phán: “Có âm thanh vang lên từ Ra-ma,
tiếng
khóc thảm sầu cay đắng.
Đó
là tiếng Ra-chên khóc con cái mình.
Nàng
không khuây khỏa được,
vì
chúng nó chết rồi!”
Nhưng
CHÚA phán như sau: “Đừng khóc nữa;
đừng
để mắt ngươi đẫm lệ.
Ngươi
sẽ được đền bù công khó mình!” CHÚA phán vậy.
“Dân
chúng sẽ trở về từ xứ quân thù.
Cho
nên ngươi sẽ có hi vọng trong tương lai,” CHÚA phán vậy.
“Con
cái ngươi sẽ trở về xứ mình.
Ta
đã nghe Ít-ra-en than vãn:
‘Lạy
CHÚA, Ngài trừng phạt tôi,
và
tôi đã học được bài học.
Tôi
như bò con chưa hề mang ách.
Xin
hãy mang tôi về để tôi có thể trở về nhà.
Ngài
thật là CHÚA và Thượng Đế tôi.
Thật
vậy, lạy CHÚA, sau khi đã lạc xa khỏi Ngài,
tôi
đã thay đổi lòng và nếp sống.
Sau
khi tôi đã hiểu, tôi đấm ngực ân hận.
Tôi
bị hổ nhục,
vì
tôi đã phải chịu khổ,
do
những điều dại dột tôi làm khi còn trẻ.’”
“Các
ngươi biết rằng Ít-ra-en
là
con yêu dấu của ta, đứa con ta yêu.
Đành
rằng ta thường nói nghịch cùng Ít-ra-en,
nhưng
ta vẫn hằng nhớ nó,
ta
rất yêu thương nó,
muốn
an ủi nó,” CHÚA phán vậy.
“Hỡi
dân Ít-ra-en, hãy sửa lại các bảng chỉ đường.
Hãy
dựng bảng để chỉ đường về nhà.
Hãy
canh chừng đường đi.
Hãy
nhớ lại lối ngươi ra đi.
Hỡi
dân Ít-ra-en, hãy trở về,
Hãy
trở về thị trấn quê quán ngươi.
Ngươi
là đứa con gái hư hỏng.
Ngươi
sẽ đi lang thang bao lâu nữa
trước
khi trở về nhà?
Vì
CHÚA đã làm một điều mới lạ trong xứ:
Đàn
bà đi tìm đàn ông.”
CHÚA
Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ làm những điều tốt lành cho dân
Giu-đa lần nữa. Lúc đó dân trong xứ Giu-đa và các thị trấn sẽ lại dùng những
lời nầy: ‘Nguyện CHÚA ban phước cho ngươi, là nơi ở và núi thánh tốt đẹp.’ Dân chúng sống trong
các thành Giu-đa sẽ ở bình yên với nhau. Nông gia và dân du mục sẽ sống bình
yên với nhau. Ta sẽ ban sự yên nghỉ
và sức mạnh cho những kẻ yếu ớt và mệt mỏi.”
Sau
khi nghe như vậy, tôi, Giê-rê-mi, thức giấc và nhìn quanh quất. Giấc ngủ tôi
rất ngon.
CHÚA
phán, “Ngươi phải biết rằng, sẽ đến ngày ta giúp các gia đình Ít-ra-en, Giu-đa
cùng con cái và súc vật của chúng sinh sôi nẩy nở. Trước kia ta trông
chừng Ít-ra-en và Giu-đa để nhổ lên và phá sập, để tiêu diệt và mang tai họa
đến. Nhưng nay ta sẽ trông chừng chúng để xây lên và khiến chúng mạnh mẽ,” CHÚA
phán vậy.
Lúc
đó người ta sẽ không còn nói:
“Cha
mẹ ăn trái nho chua mà con cháu phải buốt răng.”
Nhưng
mỗi người sẽ chết vì tội lỗi mình; ai ăn trái nho chua thì người đó bị buốt
răng.
Giao ước mới
CHÚA phán, “Nầy, sẽ đến lúc
ta
lập một giao ước mới
với
dân Ít-ra-en và dân Giu-đa.
Không
giống như giao ước ta đã lập
với
tổ tiên chúng khi ta dắt tay chúng ra khỏi Ai-cập.
Lúc
đó ta làm chồng chúng nó,
nhưng
chúng phá giao ước ấy,” CHÚA phán vậy.
“Nhưng
đây là giao ước ta sẽ lập
với
dân Ít-ra-en vào lúc đó,”
CHÚA
phán:
“Ta
sẽ để lời giáo huấn ta trong trí chúng,
ghi
tạc vào lòng chúng.
Ta
sẽ làm Thượng Đế chúng,
và
chúng sẽ làm dân ta.
Người
ta không cần phải dạy láng giềng
hay
thân nhân để biết CHÚA nữa,
vì
mọi người đều sẽ biết ta,
từ
người thấp kém nhất
cho
đến người sang trọng nhất,” CHÚA phán vậy.
“Ta
sẽ tha thứ chúng vì những điều ác chúng làm,
ta
sẽ không nhớ đến tội lỗi chúng nữa.”
Chúa sẽ không bao giờ
lìa bỏ Ít-ra-en
CHÚA khiến mặt trời soi sáng ban ngày,
mặt
trăng và ngôi sao soi sáng ban đêm.
Ngài
khuấy động biển
để
các ngọn sóng đập vào bờ.
Danh
Ngài là CHÚA Toàn Năng.
CHÚA
phán như sau:
“Chỉ
khi nào các luật thiên nhiên đó không hiệu nghiệm nữa,
thì
con cháu Ít-ra-en mới không còn là dân tộc trước mặt ta.” CHÚA phán vậy.
CHÚA
phán như sau:
“Chỉ
khi nào người ta có thể đo được bầu trời cao kia
hay
biết được những bí mật dưới đất nầy,
thì
ta mới gạt bỏ con cháu Ít-ra-en,
về
những điều chúng làm,” CHÚA phán vậy.
Giê-ru-sa-lem mới
CHÚA phán, “Ngươi phải biết rằng, sẽ đến lúc Giê-ru-sa-lem được
xây lại cho ta; tất cả mọi thứ từ tháp Ha-na-nên cho đến Cổng Góc. Dây đo sẽ giăng
từ Cổng Góc thẳng cho đến đồi Ga-rép. Rồi sẽ xoay qua một nơi gọi là Gô-a. Toàn thung lũng nơi
người ta ném các xác chết và tro, cùng toàn vùng đất cao cho đến thung lũng
Kít-rôn về phía Đông cho đến góc của Cổng Ngựa, tất cả vùng đó sẽ hóa thánh cho
CHÚA. Giê-ru-sa-lem sẽ không bao giờ bị phá sập hay tiêu hủy nữa.”
.....................................
Chương ba mươi hai.
Giê-rê-mi mua một thửa ruộng
CHÚA phán cùng Giê-rê-mi vào năm thứ mười khi
vua Xê-đê-kia làm vua Giu-đa, tức năm thứ mười tám đời vua Nê-bu-cát-nết-xa. Lúc ấy đạo quân của
vua Ba-by-lôn đang bao vây Giê-ru-sa-lem. Nhà tiên tri Giê-rê-mi bị giam trong
sân của lính cận vệ, nơi cung vua Giu-đa. Xê-đê-kia, vua Giu-đa đã nhốt Giê-rê-mi ở đó.
Xê-đê-kia hỏi, “Tại sao ngươi tiên tri như vậy?” Giê-rê-mi đã tuyên bố, CHÚA
phán như sau: “Ta sắp trao thành Giê-ru-sa-lem cho vua Ba-by-lôn, người sẽ
chiếm lấy nó. Xê-đê-kia vua Giu-đa
sẽ không thoát khỏi tay quân Ba-by-lôn, nhưng chắc chắn sẽ bị giao vào tay vua
Ba-by-lôn. Người sẽ nói với vua Ba-by-lôn mặt đối mặt, và nhìn tận mắt người. Vua sẽ đày Xê-đê-kia
sang Ba-by-lôn, người sẽ ở đó cho đến khi ta xử tội người xong,” CHÚA phán vậy.
“Nếu ngươi đánh lại người Ba-by-lôn, ngươi sẽ không thắng nổi đâu.”
Trong
khi Giê-rê-mi đang ở trong tù ông nói, “CHÚA phán cùng ta: Bà con ngươi là
Ha-na-mên, con trai Sa-lum chú ngươi, sắp đến thăm ngươi. Ha-na-mên sẽ nói cùng
ngươi, ‘Anh Giê-rê-mi à, anh là bà con gần nhất của tôi, cho nên anh hãy mua
miếng ruộng của tôi gần thành A-na-thốt đi. Vì đó là quyền lợi và bổn phận của
anh.’”
Rồi
mọi việc xảy ra y như CHÚA phán. Ha-na-nên, bà con tôi đến thăm tôi trong sân
của toán cận vệ và bảo tôi, “Anh hãy mua miếng ruộng của tôi gần A-na-thốt
trong xứ Bên-gia-min đi. Đó là quyền lợi và bổn phận của anh; anh phải mua và
làm chủ nó.” Vì thế tôi biết đây là sứ điệp đến từ CHÚA.
Tôi
liền mua thửa ruộng ở A-na-thốt từ Ha-na-mên, bà con tôi, trả cho người bảy
lượng bạc. Tôi ký giấy mua, đóng
ấn và tìm mấy người chứng. Tôi cũng cân bạc trên cân. Rồi tôi lấy hai bản
giấy chuyển nhượng quyền sở hữu, tức giấy đã được đóng ấn liệt kê những
điều kiện và giới hạn của chủ quyền, còn giấy kia không đóng ấn. Tôi trao các giấy tờ
đó cho Ba-rúc, con Nê-ria, cháu Ma-a-sê-gia. Ha-na-mên, bà con tôi, các nhân
chứng ký giấy tờ ghi việc chuyển nhượng sở hữu chủ, và nhiều người Giu-đa ngồi
trong sân của toán cận vệ thấy tôi trao giấy chuyển nhượng cho Ba-rúc.
Trong
khi mọi người đang chứng kiến, tôi bảo Ba-rúc rằng, “CHÚA Toàn Năng,
Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy lấy hai bản chuyển nhượng sở hữu chủ, một bản
đóng ấn, và một bản không đóng ấn, bỏ vào trong một hũ bằng đất để giữ được
lâu. CHÚA Toàn Năng, Thượng
Đế của Ít-ra-en phán: Trong tương lai dân ta sẽ lại mua sắm nhà cửa, ruộng
nương, vườn nho trong xứ Ít-ra-en.”
Sau
khi tôi đã giao giấy chuyển nhượng cho Ba-rúc, con trai Nê-ria, thì tôi cầu
nguyện cùng CHÚA rằng,
Ôi,
lạy CHÚA là Thượng Đế, Ngài đã tạo nên trời đất bằng quyền năng lớn lao của
Ngài. Không có việc gì khó quá cho Ngài. Ngài tỏ lòng yêu thương và nhân từ cho hàng
ngàn người, nhưng Ngài cũng mang trừng phạt đến cho con cháu vì tội lỗi của cha
mẹ chúng. Lạy Thượng Đế cao cả và vĩ đại, danh Ngài là CHÚA Toàn Năng. Ngài dự liệu những
việc lớn. Ngài biết hết mọi điều người ta làm, và thưởng cho họ tùy lối sống
của họ và theo điều họ làm. Ngài làm nhiều phép lạ và những việc diệu kỳ trong xứ Ai-cập.
Ngài vẫn còn làm những điều đó trong Ít-ra-en và trong các dân tộc khác cho đến
hôm nay. Vì thế người ta biết đến Ngài. Ngài mang dân Ngài, tức dân Ít-ra-en ra khỏi
Ai-cập bằng những dấu kỳ, phép lạ, quyền năng lớn lao và sức mạnh Ngài. Ngài
mang đến sự kinh hoàng cho mọi người. Ngài cho họ xứ nầy mà Ngài đã hứa cho tổ tiên
họ từ trước, một vùng đất phì nhiêu. Họ đến trong xứ nầy và nhận nó làm sản nghiệp
nhưng họ không vâng lời Ngài và đi theo lời giáo huấn Ngài. Họ không làm theo
mọi điều Ngài truyền dặn. Cho nên Ngài khiến những điều kinh khiếp nầy xảy ra
cho họ.
“Kìa,
kẻ thù đã bao vây thành phố và đắp đường lên đến chóp vách để chiếm nó. Vì
chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thành sẽ bị trao cho người Ba-by-lôn đang bao
vây nó. Ngài bảo trước là những điều nầy sẽ xảy ra, bây giờ Ngài nhìn thấy nó
đang xảy ra. Nhưng lạy Chúa là
Thượng Đế, Ngài bảo tôi, ‘Hãy dùng bạc mua miếng ruộng và gọi các nhân chứng
đến.’ Ngài bảo tôi như thế nầy trong khi quân Ba-by-lôn sắp sửa chiếm thành.”
Sau
đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi rằng: “Ta là CHÚA, Thượng Đế của mọi người trên đất.
Không việc gì ta không làm được. Cho nên CHÚA phán: Ta sẽ trao thành
Giê-ru-sa-lem vào tay quân Ba-by-lôn và Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Người
sẽ chiếm lấy thành. Quân Ba-by-lôn đang
tấn công thành Giê-ru-sa-lem. Họ sắp vào thành và sẽ phóng hỏa đốt rụi thành
phố luôn cả nhà cửa trong đó mà dân chúng Giê-ru-sa-lem đã dâng của lễ cho
Ba-anh trên mái và đổ các của lễ uống cho các thần tượng khác để chọc giận ta. Từ khi còn trẻ, dân
Ít-ra-en và Giu-đa đã làm những điều sái bậy. Chúng đã chọc giận ta bằng cách
bái lạy các thần tượng do chính tay mình làm ra,” CHÚA phán vậy. “Từ ngày Giê-ru-sa-lem
được xây cất cho đến nay, thành nầy đã chọc giận ta, đến nỗi ta muốn dẹp nó đi
khỏi mắt ta. Ta sẽ tiêu hủy nó vì
những điều ác dân Ít-ra-en và Giu-đa làm. Dân chúng, vua, các viên chức, các
thầy tế lễ, các nhà tiên tri, toàn dân Giu-đa và dân Ít-ra-en đã chọc giận ta. Chúng đã xây lưng lại
cùng ta, mà không xây mặt. Bao lần ta muốn dạy chúng nó nhưng chúng nó không
nghe, cũng không chịu học. Chúng đã đặt những thần tượng gớm ghiếc ở nơi ta đã chọn để thờ
phụng, khiến cho nơi ấy nhơ nhớp. Trong thung lũng Bên-Hin-nôm chúng đã xây
những nơi thờ lạy Ba-anh để thiêu con trai con gái mình cho thần Mô-léc. Ta
không bao giờ bảo chúng làm những điều gớm ghiếc như thế. Ta không bao giờ
tưởng tượng nổi rằng chúng sẽ làm việc gớm ghiếc như vậy để khiến Giu-đa phạm
tội.”
Ngươi
nói rằng, “Vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thành sẽ bị trao vào tay vua
Ba-by-lôn.” Nhưng CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau về Giê-ru-sa-lem: “Ta đuổi dân Ít-ra-en
và Giu-đa ra khỏi xứ chúng vì ta nổi giận cùng chúng. Nhưng ngươi phải biết
rằng ta sẽ sớm gom chúng lại từ mọi xứ mà ta đã đày chúng đến và mang chúng về
lại tại xứ nầy để chúng sống bình yên. Dân Ít-ra-en và Giu-đa sẽ làm dân ta, ta sẽ
làm Thượng Đế chúng. Ta sẽ khiến chúng mong
muốn trở thành một dân tộc đoàn kết. Chúng sẽ thật lòng muốn thờ lạy ta suốt
đời vì ích lợi cho chúng và cho con cháu chúng.
Ta
sẽ lập giao ước với chúng, giao ước đó sẽ còn đời đời. Ta sẽ không bao giờ quay
mặt khỏi chúng; ta sẽ luôn luôn làm lợi cho chúng. Ta sẽ khiến chúng kính sợ ta
thật lòng và không bao giờ xây bỏ ta. Ta sẽ vui thích mà làm lợi cho chúng. Ta sẽ
hết lòng trồng chúng lại trong xứ nầy và khiến chúng mọc lên.”
Vì
CHÚA phán như sau: “Ta đã mang đại họa đến cho dân Ít-ra-en và Giu-đa. Cũng vậy
ta sẽ mang những điều tốt lành mà ta đã hứa đến cho chúng. Các ngươi nói, ‘Đất
nầy là sa mạc hoang vu, không người hay súc vật nào ở. Nó đã được trao cho
người Ba-by-lôn.’ Nhưng trong tương lai, dân chúng sẽ lại mua ruộng trong xứ
nầy. Họ sẽ dùng tiền để mua
ruộng. Họ sẽ ký tên và đóng ấn các khế ước và gọi nhân chứng. Họ sẽ lại mua
ruộng nương trong xứ Bên-gia-min, vùng quanh Giê-ru-sa-lem, các thành của
Giu-đa và trong vùng núi, vùng đồi phía Tây và vùng Nam Giu-đa. Ta sẽ khiến mọi
vật trở lại tốt đẹp cho chúng như xưa,” CHÚA phán vậy.
.........................................
Chương ba mươi ba.
Lời hứa của Chúa
Trong khi Giê-rê-mi đang bị giam trong sân
của toán lính cận vệ thì CHÚA phán cùng ông lần thứ hai: Đây là lời CHÚA,
Đấng dựng nên đất, uốn nắn nó, ban trật tự cho nó, danh Ngài là CHÚA: “Hỡi
Giu-đa hãy cầu nguyện cùng ta, ta sẽ trả lời cho các ngươi. Ta sẽ cho ngươi
biết những điều bí ẩn mà ngươi chưa hề nghe. Đây là điều CHÚA, Thượng Đế
của Ít-ra-en phán về các nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem và các cung điện vua ở Giu-đa:
Kẻ thù sẽ phá sập các nhà cửa ấy. Chúng sẽ đắp mô lên đến tận chóp của vách
thành. Chúng sẽ dùng gươm đánh giết mọi người trong thành. Dân cư
Giê-ru-sa-lem đã làm nhiều điều ác. Ta nổi giận và nghịch cùng chúng cho nên ta
sẽ đánh giết chúng. Người Ba-by-lôn sẽ đến tấn công Giê-ru-sa-lem. Thành phố sẽ
đầy thây chết.
Nhưng
rồi ta sẽ mang sức khoẻ và chữa lành cho dân chúng ở đó. Ta sẽ chữa lành và cho
chúng vui hưởng thái bình an ninh. Ta sẽ mang Giu-đa và Ít-ra-en trở về từ
chốn lưu đày và làm cho xứ sở chúng hùng cường như trước. Chúng nó đã phạm
tội cùng ta nhưng ta sẽ xóa tội lỗi đó. Chúng đã làm điều ác và quay khỏi ta
nhưng ta sẽ tha thứ chúng. Rồi Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một tên mang
niềm vui trước mặt ta! Dân cư khắp các nước trên đất sẽ ca ngợi nó khi họ nghe
những điều tốt lành ta làm cho nó. Họ sẽ sợ hãi và run rẩy về những điều tốt
lành và về nền hòa bình ta mang đến cho Giê-ru-sa-lem.
Các
ngươi nói, ‘Xứ chúng tôi là một sa mạc hoang vu, không bóng người hay sinh
vật.’ Nhưng CHÚA phán như sau: Đường phố Giê-ru-sa-lem và các thị trấn Giu-đa
hiện nay im vắng, không bóng người hay súc vật, nhưng ít lâu nữa sẽ huyên
náo! Sẽ có tiếng reo vui, tiếng của cô dâu chú rể vui mừng hớn hở. Sẽ có
tiếng người mang của lễ cảm tạ CHÚA vào trong đền thờ Ngài. Họ sẽ nói, ‘Chúc
tụng CHÚA Toàn Năng, vì Ngài nhân từ! Tình yêu Ngài còn đến đời đời!’
Họ
sẽ nói như thế vì ta sẽ làm những điều tốt đẹp cho Giu-đa như lúc ban đầu,”
CHÚA phán vậy.
CHÚA
Toàn Năng phán: “Nơi nầy hiện hoang vu, không bóng người hay súc vật nhưng sẽ
có người chăn chiên trong tất cả các thị trấn Giu-đa và các đồng cỏ, nơi họ để
cho bầy chiên mình nghỉ ngơi. Các kẻ chăn chiên sẽ lại đếm các chiên mình
khi chúng đi qua trước mặt họ. Họ sẽ đếm chúng nó trong núi, trong các đồi phía
Tây, vùng miền Nam Giu-đa và xứ Bên-gia-min, quanh Giê-ru-sa-lem và các thành
khác của Giu-đa!” CHÚA phán vậy.
Một nhánh tốt
CHÚA phán, “Sẽ đến lúc ta làm những điều tốt
lành mà ta đã hứa cùng dân Ít-ra-en và Giu-đa. Trong những ngày và thời kỳ
đó ta sẽ khiến một nhánh tốt mọc ra từ nhà Đa-vít. Người sẽ làm điều công bình
và phải lẽ trong xứ. Lúc ấy Giu-đa sẽ được cứu, và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ
sống an ninh. Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là: CHÚA ban sự công chính cho chúng
ta.”
CHÚA
phán: “Từ gia đình Đa-vít sẽ luôn luôn có người ngồi trên ngôi của gia đình
Ít-ra-en. Lúc nào cũng sẽ có thầy tế lễ từ gia đình Lê-vi. Họ sẽ luôn luôn
đứng trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, của lễ chay cùng sinh tế cho ta.”
CHÚA
phán cùng Giê-rê-mi như sau: “CHÚA phán: Ta đã lập giao ước với ngày và
đêm để chúng luôn luôn đến đúng kỳ. Nếu ngươi muốn thay đổi giao ước đó thì
chỉ khi nào ngươi thay đổi giao ước của ta với Đa-vít và Lê-vi mới được. Chỉ
lúc đó thì Đa-vít, tôi tớ ta mới không có người ngồi trên ngôi vua. Và cũng chỉ
lúc đó thì gia đình Lê-vi mới không có người làm thầy tế lễ phục vụ ta trong
đền thờ. Nhưng ta sẽ ban nhiều con cháu cho Đa-vít, tôi tớ ta và cho dòng
họ Lê-vi là những người sẽ phục vụ ta trong đền thờ. Chúng sẽ đông như sao trên
trời như cát bãi biển, không ai đếm được.”
CHÚA
phán cùng Giê-rê-mi như sau: “Nầy Giê-rê-mi, ngươi có nghe dân chúng nói
không? Chúng nói: ‘CHÚA đã quay mặt khỏi hai gia đình Ít-ra-en và Giu-đa mà
Ngài đã chọn lựa.’ Chúng khinh dể dân ta và không xem họ là một quốc gia nữa!”
CHÚA
phán: “Chỉ khi nào ta không còn giao ước với ngày và đêm, và chỉ khi nào không
lập ra luật cho trời và đất, thì lúc đó ta mới quay mặt khỏi con cháu
Gia-cốp. Và chỉ lúc đó ta mới không để cho con cháu của tôi tớ ta là Đa-vít
trị vì con cháu Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Nhưng vì Đa-vít, kẻ tôi tớ ta cho
nên ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng chúng và ban phúc lành cho chúng.”
...............................
Chương ba mươi bốn.
Lời cảnh cáo Xê-đê-kia
CHÚA phán cùng Giê-rê-mi trong khi
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang đánh Giê-ru-sa-lem và các thị trấn quanh
đó. Nê-bu-cát-nết-xa mang toàn quân lực mình và quân lực của các quốc gia và
dân tộc dưới quyền thống trị của mình.
CHÚA
là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Giê-rê-mi, ngươi hãy đi đến cùng Xê-đê-kia,
vua Giu-đa và nói với người như sau: Ta sắp trao thành Giê-ru-sa-lem cho vua
Ba-by-lôn. Người sẽ đốt nó cháy rụi! Ngươi sẽ không thoát khỏi tay vua
Ba-by-lôn; ngươi chắc chắn sẽ bị bắt và trao vào tay người. Ngươi sẽ nhìn thấy vua
Ba-by-lôn tận mắt, và người sẽ nói chuyện với ngươi, mặt đối mặt. Ngươi sẽ bị
đày sang Ba-by-lôn. Nhưng hỡi Xê-đê-kia, vua Giu-đa, hãy nghe lời hứa của
CHÚA. Ngài phán như sau về ngươi: Ngươi sẽ không bị gươm giết. Ngươi sẽ
chết bình yên. Dân chúng đã đốt lửa mai táng để tôn kính các tổ tiên ngươi là
các vua đã trị vì trước ngươi thể nào thì họ cũng sẽ đốt lửa mai táng để tôn
kính ngươi như vậy. Họ sẽ than khóc ngươi và buồn bã kêu lên, ‘Ôi, chủ ơi!’
Chính ta hứa với ngươi như thế, CHÚA phán vậy.”
Nên
nhà tiên tri Giê-rê-mi thuật lại những lời đó cho Xê-đê-kia ở
Giê-ru-sa-lem. Trong khi đó đạo quân của vua Ba-by-lôn đang tiến đánh
Giê-ru-sa-lem và các thành Giu-đa chưa bị thất thủ như La-ki và A-xê-ka. Đó là
các thành có vách kiên cố còn lại trong xứ Giu-đa.
Dân chúng phá bỏ giao ước
CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi vua
Xê-đê-kia lập ước cùng toàn dân cư Giê-ru-sa-lem để giải phóng tất cả tôi mọi
người Hê-bơ-rơ. Ai cũng phải phóng thích các tôi mọi người Hê-bơ-rơ của
mình, không phân biệt nam nữ. Không ai được phép giữ đồng bào Do-thái mình làm
tôi mọi nữa. Tất cả các viên chức và dân chúng chấp thuận giao ước nầy; họ
đồng ý phóng thích các nô lệ nam và nữ, không giữ họ làm tôi mọi nữa. Vì thế
tất cả các tôi mọi đều được phóng thích. Nhưng sau đó một số người
vốn có tôi mọi đổi ý. Họ bắt lại những người đã được họ trả tự do và bắt làm
tôi mọi trở lại.
Sau
đó CHÚA phán như sau cho Giê-rê-mi: “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta
mang tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập nơi chúng làm nô lệ. Và ta lập giao ước
với chúng. Ta nói cùng tổ tiên các ngươi: ‘Cuối mỗi bảy năm, mọi người
trong các ngươi phải trả tự do cho các nô lệ người Hê-bơ-rơ của mình. Nếu một
đồng bào Hê-bơ-rơ đã bán mình cho ngươi, ngươi phải phóng thích nó sau khi nó
đã phục vụ ngươi sáu năm.’ Nhưng tổ tiên các ngươi không nghe cũng không để ý
đến ta. Trước đây ít lâu các ngươi thay đổi lòng và làm điều thiện. Mỗi
người trong các ngươi trả tự do cho đồng bào Hê-bơ-rơ của mình là những nô lệ.
Các ngươi cũng đã lập ước trước mặt ta tại nơi ta đã chọn để thờ phụng
ta. Nhưng nay các ngươi đổi ý. Các ngươi chứng tỏ không tôn kính ta. Ai
nấy đều bắt lại các nô lệ nam và nữ mà các ngươi đã trả tự do, buộc họ làm nô
lệ cho các ngươi trở lại.”
Vì
thế CHÚA phán: Các ngươi không vâng lời ta. Các ngươi không trả tự do cho đồng
bào Hê-bơ-rơ, cùng thân nhân và bạn hữu mình. CHÚA phán, bây giờ ta sẽ cho
chiến tranh, dịch lệ và đói kém tha hồ tự do hoành hành. Ta sẽ khiến cho các
ngươi bị tất cả các quốc gia trên thế giới ghét bỏ. Ta sẽ trao cho kẻ thù
những người phá giao ước ta, không giữ lời hứa cùng ta. Chúng đã xẻ đôi con bê
trước mặt ta và đi qua giữa hai phần đó. Những người sau đây đã lập
giao ước trước mặt ta bằng cách đi qua giữa hai phần của con bê bị xẻ: các lãnh
tụ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các quần thần, các thầy tế lễ, và toàn dân trong
xứ. Cho nên ta sẽ trao chúng nó cho kẻ thù và bất cứ những ai muốn giết
chúng nó. Thây chúng nó sẽ làm thức ăn cho chim trời và dã thú trên đất. Ta
sẽ trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa và các quần thần người cho kẻ thù chúng nó, và
cho những ai muốn giết chúng nó, cho đạo quân của vua Ba-by-lôn, cho dù họ đã
rời khỏi Giê-ru-sa-lem. CHÚA phán, “ngươi phải biết rằng ta sẽ ra lệnh cho
đạo quân Ba-by-lôn trở lại Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ tấn công Giê-ru-sa-lem,
chiếm nó, phóng hỏa, và thiêu rụi nó. Ta sẽ tiêu diệt các thị trấn trong Giu-đa
để chúng trở thành điêu tàn không ai ở!”
................................
Chương ba mươi lăm.
Gia đình Rê-cáp vâng lời Thượng Đế
Đang khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua
Giu-đa thì CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau: “Hãy đi đến gia đình Rê-cáp.
Mời họ vào trong một căn phòng kế bên đền thờ CHÚA, và mời họ uống rượu.”
Cho
nên tôi đi kiếm Gia-a-xa-nia, con Giê-rê-mi, cháu Ha-ba-xi-nia. Tôi họp tất cả
anh em của Gia-a-xa-nia, các con trai và toàn thể gia đình Rê-cáp lại. Tôi
đưa họ vào trong đền thờ CHÚA. Chúng tôi đi vào phòng của các con trai Ha-nan,
con Ích-đa-lia, là người của Thượng Đế. Phòng đó kế cận phòng các viên chức cư
ngụ và ở phía trên phòng Ma-a-sê-gia, con Sa-lum, người giữ cửa đền thờ. Rồi
tôi để một số chén bát đầy rượu và một số ly trước mặt các người trong gia đình
Rê-cáp. Tôi bảo họ, “Các anh dùng chút rượu đi.”
Nhưng
những người Rê-cáp đáp, “Chúng tôi không bao giờ uống rượu. Tổ tiên chúng tôi
là Giô-na-đáp, con Rê-cáp, đã dặn chúng tôi như sau: ‘Ngươi và con cháu các
ngươi không bao giờ được uống rượu. Ngoài ra các ngươi cũng không được cất
nhà, gieo giống, trồng vườn nho hay làm những gì tương tự. Các ngươi chỉ được ở
trong lều. Như thế các ngươi sẽ sống lâu trong đất mà các ngươi làm dân tạm
cư.’ Vì thế chúng tôi là những người Rê-cáp vâng theo những gì Giô-na-đáp,
tổ tiên chúng tôi đã dặn. Chúng tôi, vợ, con trai con gái chúng tôi không bao
giờ uống rượu. Chúng tôi chưa bao giờ xây nhà để ở, mua sắm ruộng nương,
vườn nho hay trồng trọt hoa màu. Chúng tôi sống trong lều và vâng theo tất
cả những gì tổ tiên chúng tôi là Giô-na-đáp truyền dặn. Nhưng khi
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn tấn công Giu-đa thì chúng tôi bảo nhau, ‘Nầy,
chúng ta phải vào Giê-ru-sa-lem để thoát khỏi quân Ba-by-lôn và quân A-ram.’ Vì
vậy chúng tôi đã ở lại Giê-ru-sa-lem.”
Sau
đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi: CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán:
“Giê-rê-mi, hãy đi bảo người Giu-đa và toàn dân cư Giê-ru-sa-lem như sau: ‘Các
ngươi nên học một bài học và vâng lời ta,’” CHÚA phán. “Giô-na-đáp, con
Rê-cáp truyền dặn con cháu mình đừng uống rượu thì chúng nó vâng theo. Cho đến
ngày nay chúng vẫn vâng theo mệnh lệnh của tổ tiên mình và không uống rượu.
Nhưng ta là CHÚA đã phán dặn các ngươi nhiều lần nhưng các ngươi vẫn không vâng
lời ta. Ta đã sai các tôi tớ ta là các nhà tiên tri nhiều lần đến cùng các
ngươi và bảo, ‘Mỗi người các ngươi phải thôi làm điều ác. Các ngươi phải thay
đổi để trở nên tốt hơn. Đừng đi theo các thần khác mà phục vụ chúng. Nếu các
ngươi vâng lời ta thì các ngươi sẽ được sống trong xứ mà ta đã ban cho các
ngươi và tổ tiên các ngươi.’ Còn các ngươi chẳng thèm nghe ta, cũng không vâng
lời ta. Thật thế, con cháu Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp vâng theo mệnh lệnh
tổ tiên chúng truyền cho nhưng dân Giu-đa chẳng vâng lời ta.”
“Cho
nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Hãy chú ý, ta sắp mang mọi
thảm họa mà ta đã tuyên bố đến trên Giu-đa và cho mọi người sống trong
Giê-ru-sa-lem. Ta bảo chúng nhưng chúng chẳng thèm nghe. Ta kêu chúng, nhưng
chúng không trả lời.’”
Rồi
Giê-rê-mi nói cùng con cháu Rê-cáp rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của
Ít-ra-en phán: ‘Các ngươi đã vâng theo lời dặn của tổ tiên mình là Giô-na-đáp
và tuân theo mọi lời giáo huấn của người; các ngươi đã làm theo mọi điều người
dặn biểu.’ Cho nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Lúc nào
cũng sẽ có người thuộc con cháu của Giô-na-đáp, con Rê-cáp phục vụ ta.
...........................
Chương ba mươi sáu.
Giê-hô-gia-kim đốt cuộn sách
của Giê-rê-mi
CHÚA phán cùng Giê-rê-mi trong năm thứ tư đời
Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa: “Hãy lấy một cuộn giấy rồi viết trên đó những
lời ta đã bảo ngươi về Ít-ra-en, Giu-đa và về tất cả các dân tộc. Hãy ghi lại
mọi điều từ khi ta bắt đầu phán cùng ngươi, khi Giô-xia mới lên ngôi, cho đến
bây giờ. May ra gia đình Giu-đa
sẽ nghe những thảm họa ta dự định mang đến cho chúng để chúng thôi làm ác
chăng. Như thế ta sẽ tha thứ những tội lỗi và điều ác mà chúng đã làm.”
Vậy
Giê-rê-mi gọi Ba-rúc, con Nê-ria. Giê-rê-mi nói những lời CHÚA đã phán dặn ông,
rồi Ba-rúc ghi lại vào cuộn giấy. Sau đó Giê-rê-mi bảo Ba-rúc, “Ta bị cản trở,
không thể đi vào đền thờ CHÚA được. Ta phải ở lại đây. Cho nên ta muốn ngươi
đi vào đền thờ CHÚA vào ngày mà dân chúng cữ ăn. Đọc những lời trong cuộn sách
cho dân Giu-đa từ các thị trấn đến Giê-ru-sa-lem. Hãy đọc những lời của CHÚA,
là những lời ngươi viết trên cuộn giấy mà ta đã đọc cho ngươi. Có thể họ sẽ cầu xin
CHÚA giúp mình. Có thể mọi người sẽ thôi làm điều ác vì CHÚA đã tuyên bố Ngài
rất tức giận họ.” Vậy Ba-rúc, con Nê-ria
làm mọi điều nhà tiên tri Giê-rê-mi dặn bảo. Ông đọc lớn những lời của CHÚA ghi
trong cuộn giấy trong đền thờ CHÚA.
Vào
tháng chín năm thứ năm đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua, thì người ta
loan báo một thời kỳ đặc biệt cữ ăn. Tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem và mọi người
từ các thị trấn Giu-đa đến Giê-ru-sa-lem đều cữ ăn để tôn kính CHÚA. Lúc đó Ba-rúc đọc cho
mọi người ở đó nghe những lời của Giê-rê-mi trong cuộn sách. Ông đọc cuộn sách
nơi đền thờ CHÚA trong phòng của Ghê-ma-ria, con Sa-phan, một bí thư hoàng gia.
Phòng đó nằm trên sân ngay lối vào Cổng Mới của đền thờ.
Mi-cai-gia,
con Ghê-ma-ria, cháu Sa-phan nghe những lời của CHÚA ghi trong cuộn sách. Mi-cai-gia đi xuống
phòng của bí thư hoàng gia trong cung vua nơi tất cả các viên chức đang ngồi:
Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia; Đê-lai-gia, con Sê-mai-gia; Ên-na-than, con
Ác-bo; Ghê-ma-ria, con Sa-phan; Xê-đê-kia con Ha-na-nia; và tất cả các viên
chức khác. Mi-cai-gia thuật lại
cho họ nghe mọi điều anh đã nghe Ba-rúc đọc cho dân chúng từ trong cuộn sách.
Các
viên chức đó liền sai một người tên Giê-hu-đi, con Nê-tha-nia đến cùng Ba-rúc.
Nê-tha-nia là con Sê-lê-mia, cháu Cu-si. Giê-hu-đi bảo Ba-rúc, “Hãy mang cuộn
sách mà anh đã đọc cho dân chúng rồi đi theo tôi.”
Vậy
Ba-rúc, con Nê-ria cầm cuộn sách đi theo Giê-hu-đi đến gặp các viên chức.
Các
viên chức bảo Ba-rúc, “Mời anh ngồi xuống và đọc cuộn sách cho chúng tôi nghe.”
Vậy
Ba-rúc đọc sách đó cho họ nghe.
Sau
khi các viên chức nghe tất cả lời trong sách thì họ đâm hoảng và nhìn nhau. Họ
nói với Ba-rúc, “Chúng ta chắc chắn phải cho vua biết những lời nầy.” Rồi các viên chức hỏi
Ba-rúc, “Anh làm ơn cho chúng tôi biết, anh lấy những lời ghi trong sách nầy ở
đâu? Có phải anh viết lại những gì Giê-rê-mi bảo anh không?”
Ba-rúc
đáp, “Phải. Giê-rê-mi đã đọc tất cả những lời nầy cho tôi, và tôi dùng mực ghi
xuống trong cuộn sách nầy.”
Các
viên chức liền bảo Ba-rúc, “Anh và Giê-rê-mi nên đi trốn, đừng cho ai biết mình
ở đâu.”
Các
viên chức để cuộn sách trong phòng của Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia. Rồi họ đi
vào gặp vua trong sân và thuật cho vua về cuộn sách. Vua Giê-hô-gia-kim
liền sai Giê-hu-đi đi lấy cuộn sách. Giê-hu-đi mang cuộn sách từ phòng
Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia, rồi đọc sách ấy cho vua và quần thần đang đứng
quanh vua. Lúc đó là tháng chín trong
năm, nên vua Giê-hô-gia-kim đang ngồi trong căn gác mùa đông. Một chậu nhỏ có
lửa đang cháy để sưởi ấm trước mặt vua. Sau khi Giê-hu-đi đọc được ba hay bốn cột
trong sách thì vua lấy dao nhỏ cắt các cột đó khỏi cuộn giấy và ném vào chậu
lửa. Cuối cùng nguyên cả cuộn giấy bị đốt tiêu trong lửa. Vua Giê-hô-gia-kim và
các tôi tớ nghe đầy đủ mọi lời nhưng không tỏ dấu lo sợ! Họ không xé áo quần để
tỏ dấu buồn rầu. Ngay cả khi
Ên-na-than, Đê-lai-gia, và Ghê-ma-ria tìm cách khuyên vua Giê-hô-gia-kim đừng
đốt cuộn sách nhưng vua vẫn không nghe. Ngược lại, vua ra lệnh cho Giê-ra-min, con
trai vua, Sê-rai-gia, con A-ri-ên, và Sê-lê-mia, con Áp-đin lùng bắt thư ký
Ba-rúc và nhà tiên tri Giê-rê-mi. Nhưng CHÚA giấu họ.
Vậy
vua Giê-hô-gia-kim đốt cuộn sách mà Ba-rúc đã ghi lại những lời Giê-rê-mi nói
cùng mình. Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi: “Hãy lấy một cuộn khác và ghi lại những gì trong
cuộn sách đầu tiên mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa đã đốt. Ngoài ra cũng bảo
Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa như sau: CHÚA phán: Ngươi đã đốt cuộn sách và nói,
‘Hỡi Giê-rê-mi, tại sao ngươi viết trong đó là vua Ba-by-lôn chắc chắn sẽ đến
và tiêu hủy xứ nầy cùng người và súc vật trong đó?’” Cho nên CHÚA phán như
sau về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa: “Con cháu Giê-hô-gia-kim sẽ không được ngồi
trên ngôi Đa-vít. Khi Giê-hô-gia-kim qua đời, xác người sẽ bị quăng xuống đất.
Nó sẽ bị phơi nắng nóng ban ngày và sương muối lạnh ban đêm. Ta sẽ trừng phạt
Giê-hô-gia-kim, con cái và tôi tớ người, vì chúng đã làm ác. Ta sẽ giáng thảm
họa trên chúng và toàn thể dân Giê-ru-sa-lem và Giu-đa tất cả những gì ta đã
nói mà chúng không thèm nghe.”
Vậy
Giê-rê-mi lấy một cuộn sách khác đưa cho Ba-rúc, con Nê-ria, thư ký của ông.
Trong khi Giê-rê-mi đọc thì Ba-rúc ghi lại trên cuộn sách những lời trên cuộn
sách đầu tiên mà vua Giê-hô-gia-kim đã thiêu trong lửa. Trong cuộn thứ hai có
thêm nhiều lời tương tự.
.........
Chương ba mươi bảy.
Giê-rê-mi bị tù
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã chỉ định
Xê-đê-kia, con Giô-xia làm vua Giu-đa. Xê-đê-kia thay thế Giê-hô-gia-kin, con
trai Giê-hô-gia-kim. Nhưng Xê-đê-kia, các đầy tớ ông và dân Giu-đa không
nghe lời CHÚA phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
Lúc
ấy vua Xê-đê-kia sai Giê-hu-can, con Sê-lê-mia, và thầy tế lễ Xô-phô-ni, con
Ma-a-sê-gia, nhắn với nhà tiên tri Giê-rê-mi như sau: “Giê-rê-mi ơi, xin ông
hãy cầu nguyện cùng CHÚA là Thượng Đế cho chúng tôi.”
Lúc
đó Giê-rê-mi chưa bị bỏ tù. Cho nên ông được tự do đi lại. Đạo quân của
vua Ai-cập đã kéo lên từ Ai-cập tiến về phía Giu-đa. Lúc đó đạo quân Ba-by-lôn
đã vây thành Giê-ru-sa-lem. Khi chúng nghe quân Ai-cập đang tiến về phía chúng
thì liền bỏ đi khỏi Giê-ru-sa-lem.
CHÚA
phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi rằng: “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en
phán: Hỡi Giê-hu-canh và Xô-phô-ni, ta biết Xê-đê-kia, vua Giu-đa sai các ngươi
đến cầu xin ta giúp đỡ. Hãy bảo vua Xê-đê-kia như sau: ‘Hãy nghe kỹ đây: Đạo
quân của vua Ai-cập kéo đến giúp ngươi nhưng chúng sẽ trở về Ai-cập. Sau
đó, đạo quân Ba-by-lôn sẽ trở lại tấn công Giê-ru-sa-lem, chiếm nó và thiêu rụi
nó.’”
CHÚA
phán: “Hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem, chớ tự gạt mình. Đừng nói, ‘Quân Ba-by-lôn sẽ
để chúng ta yên.’ Không đâu! Dù cho các ngươi đánh bại toàn đạo quân
Ba-by-lôn đang tấn công các ngươi đến nỗi chỉ còn một số người bị thương còn
sót lại trong lều, chúng sẽ từ lều mình đến và đốt tiêu Giê-ru-sa-lem!”
Vậy
quân Ba-by-lôn bỏ Giê-ru-sa-lem để đánh quân của vua Ai-cập. Lúc đó
Giê-rê-mi tìm cách đi từ Giê-ru-sa-lem xuống xứ Bên-gia-min để nhận phần
gia tài của mình. Khi ông đến Cổng Bên-gia-min ở Giê-ru-sa-lem, thì viên
sĩ quan chỉ huy toán cận vệ bắt giữ ông. Tên viên sĩ quan đó là Y-ri-gia, con
Sê-lê-mia, cháu Ha-na-nia. Y-ri-gia nói, “Anh định bỏ chúng tôi để theo quân
Ba-by-lôn phải không?”
Nhưng
Giê-rê-mi bảo Y-ri-gia, “Không phải! Tôi không theo phe quân Ba-by-lôn.”
Y-ri-gia không nghe Giê-rê-mi, nên bắt ông và giải đến các viên chức của
Giê-ru-sa-lem. Các viên quan đó rất bất bình với Giê-rê-mi và đánh đập
ông. Rồi họ nhốt ông trong nhà của Giô-na-than, bí thư hoàng gia, nhà đó đã
biến thành nhà tù. Vậy họ nhốt ông trong ngục tối. Giê-rê-mi bị giam trong
đó lâu ngày.
Sau
đó vua Xê-đê-kia cho giải Giê-rê-mi đến cung vua. Xê-đê-kia hỏi riêng ông, “Có
lời gì từ CHÚA không?”
Giê-rê-mi
đáp, “Thưa vua Xê-đê-kia, có. Vua sẽ bị trao vào tay vua Ba-by-lôn.” Rồi
Giê-rê-mi hỏi vua Xê-đê-kia, “Tôi đã làm điều gì phạm pháp nghịch vua, các quần
thần hay dân cư Giê-ru-sa-lem? Tại sao vua tống giam tôi vào ngục? Còn các
nhà tiên tri đã nói tiên tri như sau về vua: ‘Vua Ba-by-lôn sẽ không tấn công
vua hay đất Giu-đa nầy’ đâu rồi? Nhưng bây giờ, thưa vua và chúa tôi, xin
hãy nghe tôi, và làm theo điều tôi van xin. Xin đừng gởi tôi về nhà
Giô-na-than, bí thư hoàng gia, nếu không tôi sẽ bỏ xác ở đó!”
Vậy
vua Xê-đê-kia ra lệnh canh giữ Giê-rê-mi trong sân của toán cận vệ, mỗi ngày
được cấp bánh từ phố của thợ làm bánh cho đến khi trong thành không còn bánh
nữa. Vậy Giê-rê-mi bị canh giữ trong sân của toán cận vệ.
...........................
Chương ba mươi tám.
Giê-rê-mi bị quăng xuống giếng
Sê-pha-tia, con Mát-tan, Ghê-đa-lia, con
Ba-sua, Giê-hu-can, con Sê-lê-mia, và Ba-sua, con Manh-ki-gia nghe rằng Giê-rê-mi
đã bảo toàn thể dân chúng: CHÚA phán như sau: “Ai ở lại Giê-ru-sa-lem sẽ
chết vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ. Nhưng ai đầu hàng quân Ba-by-lôn sẽ
sống. Họ sẽ thoát và được bảo toàn mạng sống như nhận được chiến lợi
phẩm.” Và CHÚA phán như sau: “Thành Giê-ru-sa-lem nầy chắc chắn sẽ bị trao
vào quân của vua Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm lấy thành nầy!”
Sau
đó các quần thần đề nghị với vua, “Phải xử tử Giê-rê-mi! Nó làm nản lòng quân
sĩ đang ở trong thành và toàn dân bằng những lời tuyên bố mình. Nó chẳng muốn
điều tốt cho chúng ta mà chỉ muốn hủy hoại chúng ta thôi.”
Vua
Xê-đê-kia bảo họ, “Nầy ông ta ở trong tay các ngươi. Ta không làm gì cản các
ngươi đâu.”
Vậy
các viên chức bắt Giê-rê-mi quăng xuống giếng của Manh-ki-gia, con trai vua,
nằm trong sân của toán cận vệ. Họ dùng dây thừng thả Giê-rê-mi xuống giếng.
Giếng không có nước, chỉ có bùn nên Giê-rê-mi lún xuống bùn.
Nhưng
có Ê-bết Mê-léc, người Cút và là một tôi tớ trong cung điện, nghe các viên chức
đã thả Giê-rê-mi xuống giếng. Trong khi vua Xê-đê-kia đang ngồi nơi cổng
Bên-gia-min, thì Ê-bết Mê-léc rời cung đi đến gặp vua. Ê-bết Mê-léc thưa
cùng vua rằng, “Thưa chúa và vua tôi ơi, các viên quan nầy hành động ác
độc lắm. Họ đối xử với nhà tiên tri thật tệ bạc. Họ đã quăng ông vào giếng để ông
chết trong đó! Khi trong thành không còn bánh nữa, ông ta cũng sẽ chết đói
thôi.”
Vua
Xê-đê-kia liền ra lệnh cho Ê-bết Mê-léc người Cút, “Đem ba mươi người từ
cung vua để kéo nhà tiên tri Giê-rê-mi ra khỏi giếng trước khi người chết.”
Vậy
Ê-bết Mê-léc mang những người đó cùng với mình vào phòng ngay dưới kho trong
cung vua lấy giẻ và áo quần cũ. Rồi dùng dây thừng thòng các thứ đó xuống giếng
cho Giê-rê-mi. Ê-bết Mê-léc người Cút bảo Giê-rê-mi, “Ông hãy quấn các áo
quần và giẻ cũ quanh nách để làm đệm cho dây thừng.” Giê-rê-mi làm theo như
vậy. Rồi họ kéo ông lên theo dây thừng và mang ông ra khỏi giếng.
Giê-rê-mi bị giam trong sân của toán cận vệ.
Xê-đê-kia chất vấn Giê-rê-mi
Sau đó vua Xê-đê-kia cho người giải Giê-rê-mi
đến trước mặt mình nơi cổng thứ ba của đền thờ CHÚA. Vua bảo Giê-rê-mi, “Ta
muốn hỏi ngươi một điều. Ngươi không được giấu ta điều gì, phải nói thật.”
Giê-rê-mi
thưa, “Nếu tôi nói cho vua câu trả lời, chắc chắn vua sẽ giết tôi. Còn nếu tôi
khuyên vua thì vua cũng không thèm nghe.”
Vua
Xê-đê-kia hứa kín cùng Giê-rê-mi, “Ta lấy danh CHÚA hằng sống là Đấng ban cho
chúng ta hơi thở và sự sống mà thề rằng ta sẽ không giết ngươi cũng không giao
ngươi vào tay những viên chức muốn giết ngươi.”
Vậy
Giê-rê-mi nói cùng vua Xê-đê-kia rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en
phán: ‘Nếu ngươi đầu hàng các sĩ quan của vua Ba-by-lôn thì mạng sống vua sẽ
được bảo toàn. Giê-ru-sa-lem sẽ không bị hỏa thiêu, vua và gia đình vua sẽ
sống. Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng các sĩ quan của vua Ba-by-lôn thì
thành nầy sẽ bị trao vào tay quân Ba-by-lôn; chúng sẽ thiêu rụi thành, còn vua
sẽ không thoát khỏi tay chúng.’”
Vua
Xê-đê-kia bảo Giê-rê-mi, “Ta sợ những người Giu-đa đã bỏ trốn theo người
Canh-đê. Nếu người Ba-by-lôn trao ta vào tay chúng thì chúng sẽ hành hạ ta.”
Nhưng
Giê-rê-mi bảo đảm, “Quân Ba-by-lôn sẽ không trao vua vào tay người Do-thái đâu.
Xin vua hãy vâng lời CHÚA đã phán qua tôi để vua được bình yên và bảo toàn mạng
sống. Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng người Ba-by-lôn thì CHÚA cho tôi
biết những gì sẽ xảy ra. Tất cả những người đàn bà còn lại trong cung vua
Giu-đa sẽ bị mang ra trình diện các sĩ quan cao cấp của vua Ba-by-lôn. Họ sẽ
chế nhạo vua bằng bài ca sau đây:
‘Các
bạn vua đã giăng bẫy cho vua
và
mạnh hơn vua;
Trong
khi chân vua đã lún vào bùn,
thì
họ bỏ đi.’
Tất
cả các vợ và con của vua sẽ bị mang ra giao cho quân Ba-by-lôn. Vua sẽ không
thoát khỏi tay họ mà sẽ bị vua Ba-by-lôn bắt, còn Giê-ru-sa-lem sẽ bị thiêu
rụi.”
Vua
Xê-đê-kia liền bảo Giê-rê-mi, “Đừng cho ai biết ta đã nói chuyện với ngươi thì
ngươi sẽ không chết. Nhưng nếu các viên chức nghe rằng ta đã nói chuyện
với ngươi rồi họ đến bảo ngươi, ‘Hãy nói cho chúng ta biết ngươi đã nói với vua
những gì và vua nói với ngươi ra sao. Nếu ngươi không chịu nói thì chúng ta sẽ
giết ngươi.’ Nếu họ hỏi thì ngươi phải trả lời với họ như sau, ‘Tôi đã van
xin vua đừng đưa tôi trở về nhà Giô-na-than kẻo tôi chết ở đó.’”
Sau
đó các viên chức đến hỏi Giê-rê-mi. Ông thuật lại cho họ theo như vua dặn. Cho
nên họ thôi không hỏi nữa vì không ai nghe được Giê-rê-mi và vua đã nói gì với
nhau.
Giê-rê-mi
bị giam trong sân của toán cận vệ cho đến ngày thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm.
..........
Chương ba mươi chín.
Thành Giê-ru-sa-lem thất thủ
Thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm như sau: Tháng
mười, năm thứ chín đời Xê-đê-kia, vua Giu-đa, thì Nê-bu-cát-nết-xa vua
Ba-by-lôn cùng toàn đạo quân kéo đến vây đánh Giê-ru-sa-lem. Cuộc vây hãm
kéo dài đến ngày chín tháng tư năm thứ mười một, đời vua Xê-đê-kia, thì thành
bị chọc thủng. Tất cả các sĩ quan sau đây của vua Ba-by-lôn tiến vào
Giê-ru-sa-lem và đến ngồi ở Cổng Giữa: Nê-ganh Sa-rê-xe, Xam-ga Nê-bô,
Xa-xê-kim, sĩ quan tư lệnh người Ráp-sa-ít, Nê-ganh Sa-rê-xe người Ráp-ma, cùng
toàn thể các viên chức cao cấp khác.
Khi
Xê-đê-kia vua Giu-đa và các binh sĩ thấy họ thì bỏ trốn lúc ban đêm, chạy theo
ngõ vườn vua, lẻn qua cổng giữa hai vách thành rồi trốn theo hướng thung lũng
Giô-đanh. Nhưng quân Ba-by-lôn rượt theo và đuổi kịp vua Xê-đê-kia trong
bình nguyên Giê-ri-cô. Sau khi bắt được vua, họ giải ông đến trước
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang ở thành Ríp-la trong xứ Ha-mát. Vua
Ba-by-lôn kết án Xê-đê-kia ở đó. Rồi vua Ba-by-lôn giết các con trai
Xê-đê-kia và các viên chức cao cấp của Giu-đa trước mắt vua ở Ríp-la. Họ
móc mắt Xê-đê-kia, lấy xiềng sắt xích ông lại và giải qua Ba-by-lôn.
Sau
đó quân Ba-by-lôn phóng hỏa cung vua cùng với nhà cửa của dân chúng và phá sập
các vách thành quanh Giê-ru-sa-lem. Rồi Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận
vệ đặc biệt giải qua Ba-by-lôn tất cả dân chúng còn lại trong thành cùng những
người trước đó đã đầu thú cùng với đám dân cư còn lại. Nê-bu-xa-ra-đan,
chỉ huy toán cận vệ chỉ chừa lại trong xứ Giu-đa những người nghèo khổ, khố
rách áo ôm, rồi ngày hôm đó cấp cho họ vườn nho và đồng ruộng để trồng trọt.
Nê-bu-cát-nết-xa,
vua Ba-by-lôn ra lệnh cho Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ như sau về
Giê-rê-mi: “Hãy tìm Giê-rê-mi và chăm sóc cẩn thận, không được làm hại
người điều gì; nhưng hãy làm theo điều người yêu cầu.” Vậy
Nê-bu-cát-nết-xa sai những người sau đây đi tìm Giê-rê-mi: Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ
huy toán cận vệ; Nê-bu-sa-ban, sĩ quan tư lệnh; Nê-ganh Sa-rê-xe, một viên chức
cao cấp và tất cả các sĩ quan nòng cốt của vua Ba-by-lôn; Họ mang
Giê-rê-mi từ sân của toán cận vệ rồi giao cho Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu
Sa-phan là người nhận lệnh đưa ông về nhà. Vậy họ đưa ông về nhà và ông ở chung
với dân chúng còn sót lại tại Giu-đa.
Sứ điệp của Chúa cho Ê-bết-Mê-léc
Trong khi đó có lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi
đang khi ông đang bị nhốt trong sân khám rằng: “Giê-rê-mi, hãy đi bảo
Ê-bết-Mê-léc, người Cút rằng, CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán như
sau, ‘Ta sắp thực hiện những lời về Giê-ru-sa-lem bằng thảm họa chứ không bằng
thái bình, thịnh vượng. Những lời đó sẽ thành sự thật trước mắt ngươi. Nhưng
CHÚA phán, ta sẽ giải thoát ngươi trong ngày đó, ngươi sẽ không bị trao vào tay
của những người mà ngươi sợ. Ta chắc chắn sẽ giải cứu ngươi, hỡi
Ê-bết-Mê-léc. Ngươi sẽ không bị gươm giết; ngươi sẽ thoát và được sống vì ngươi
đã đặt niềm tin cậy nơi ta,’ CHÚA phán vậy.
........
Chương bốn mươi.
Giê-rê-mi được trả tự do
Có lời của CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi
Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán phòng vệ phóng thích ông ở Ra-ma. Ông tìm được
Giê-rê-mi ở Ra-ma đang bị xiềng chung với đám tù binh Giu-đa và Giê-ru-sa-lem
sắp bị đày qua Ba-by-lôn. Khi Nê-bu-xa-ra-đan tìm được Giê-rê-mi thì nói
cùng ông rằng, “CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã tuyên bố thảm họa sẽ xảy đến cho
nơi nầy. Nay CHÚA đã thực hiện điều đó y như Ngài đã phán. Thảm họa nầy
xảy đến vì dân Giu-đa phạm tội cùng CHÚA, không vâng lời Ngài. Nhưng bây
giờ, ta đã tháo xiềng cho ngươi. Nếu ngươi muốn sang Ba-by-lôn với ta thì đi,
ta sẽ lo cho ngươi, nhưng nếu ngươi không muốn đi thì thôi. Nầy, cả xứ đang ở
trước mặt ngươi, ngươi muốn đi đâu tùy ý.” Khi Giê-rê-mi sắp sửa ra đi thì
Nê-bu-xa-ra-đan bảo, “Hãy trở về với Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan mà
vua Ba-by-lôn đã đặt làm quan tổng trấn các thành Giu-đa cũng được. Hãy ở với
người trong vòng dân tộc ngươi. Hay ngươi muốn đi đâu tùy ý.”
Vậy
Nê-bu-xa-ra-đan cấp cho Giê-rê-mi lương thực và một món quà rồi thả ông
ra. Giê-rê-mi liền đi đến Mích-ba ở với Ghê-đa-lia, con A-hi-cam và giữa
những dân còn lại trong xứ.
Thời gian cai trị ngắn ngủi //của Ghê-đa-lia
Khi các viên chỉ huy và quân sĩ Giu-đa dưới
quyền ở ngoài đồng nghe vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam làm
tổng trấn trong xứ và giao cho ông quản trị đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng những
người nghèo khổ trong xứ không bị đày sang Ba-by-lôn, thì họ đều đến gặp
Ghê-đa-lia ở Mích-ba. Trong số đó có Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, Giô-ha-nan và
Giô-na-than con của Ka-rê-a, Sê-rai-gia con Tan-hu-mết, các con trai của Ê-phai
người Nê-tô-phát, và Giê-xa-nia, con Ma-a-ca. Họ và binh sĩ dưới quyền đều đến.
Ghê-đa-lia,
con của A-hi-cam, cháu Sa-phan hứa cùng họ rằng, “Đừng sợ phải phục vụ người
Ba-by-lôn. Hãy cứ ở trong xứ và thần phục vua Ba-by-lôn thì mọi việc sẽ êm
thấm. Còn về phần ta, các ngươi phải biết, ta sẽ vẫn cứ ở tại Mích-ba để
đại diện các ngươi trước mặt người Ba-by-lôn đã đến với chúng ta. Hãy gom góp
rượu, các hoa quả mùa hè, dầu và bỏ tất cả trong thùng chứa rồi cư ngụ trong
các thành mà các ngươi kiểm soát.”
Các
người Giu-đa khác đang ở Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm và trong các xứ khác nghe rằng
vua Ba-by-lôn đã để lại một số người ở Giu-đa và rằng vua đã lập Ghê-đa-lia,
con A-hi-cam, cháu Sa-phan làm tổng trấn, thì họ đều từ những nơi họ chạy
trốn trở về xứ Giu-đa, đến cùng Ghê-đa-lia ở Mích-ba, và thu gom rượu và hoa
quả mùa hè nhiều vô số.
Giô-ha-nan,
con Ka-rê-a cùng tất cả các viên chỉ huy quân đội đang ở ngoài đồng đến cùng
Ghê-đa-lia tại Mích-ba nói cùng ông rằng, “Ông có biết rằng Ba-a-li, vua
dân Am-môn đã sai Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đến để ám sát ông không?” Nhưng
Ghê-đa-lia, con A-hi-cam không tin họ.
Sau
đó Giô-ha-an con Ka-rê-a nói riêng với Ghê-đa-lia ở Mích-ba rằng, “Cho phép tôi
đi giết Ích-ma-ên, con Mê-tha-nia mà không ai biết. Tại sao để nó giết ông để
khiến cho tất cả người Do-thái đã quy tụ quanh ông phải tản lạc và những người
còn sót lại trong Giu-đa bị tiêu diệt?”
Nhưng
Ghê-đa-lia, con A-hi-cam trả lời cùng Giô-ha-nan con Ka-ê-ra rằng, “Đừng giết
Ích-ma-ên vì ngươi đã bịa đặt vu khống anh ta.
.......
Chương bốn mươi mốt.
Đến
tháng bảy, Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc dòng vua và là một
trong các sĩ quan của vua Giu-đa cùng mười người nữa đến gặp Ghê-đa-lia, con
A-hi-cam ở Mích-ba. Trong khi họ cùng ăn uống với nhau ở đó thì Ích-ma-ên, con
Nê-tha-nia cùng mười người đi với mình đứng lên lấy gươm giết Ghê-đa-lia, con A-hi-cam,
cháu Sa-phan, người mà vua Ba-by-lôn đã cử làm tổng trấn của xứ. Ích-ma-ên cũng giết
tất cả những người Do-thái ở với Ghê-đa-lia tại Mích-ba cùng những quân lính
Ba-by-lôn có mặt ở đó.
Hai
ngày sau khi Ghê-đa-lia bị giết, chưa ai hay chuyện đó thì có tám mươi người
từ Sê-chem, Si-lô, và Xa-ma-ri đến Mích-ba mang của lễ và trầm hương đến đền
thờ CHÚA. Họ cạo râu, xé rách quần áo, cắt da thịt mình. Ích-ma-ên con
Nê-tha-nia từ Mích-ba ra đón họ, vừa đi vừa khóc. Khi gặp họ hắn nói, “Mấy anh
hãy cùng tôi đến gặp Ghê-đa-lia, con A-hi-cam.” Vậy họ đi đến Mích-ba rồi Ích-ma-ên, con
Nê-tha-nia cùng thuộc hạ liền giết bảy mươi người trong đám họ và quăng thây
xuống một giếng sâu. Nhưng mười người còn
sống sót bảo Ích-ma-ên, “Đừng giết chúng tôi. Chúng tôi có rất nhiều lúa mì,
lúa mạch, rượu và mật ong giấu trong ruộng.” Vì thế Ích-ma-ên không giết họ
chung với những người kia. Cái giếng mà Ích-ma-ên quăng các xác chết xuống là chỗ vua A-sa
đã đào để lấy nước cho thành phố và cũng để phòng thủ chống lại Ba-a-sa,
vua Ít-ra-en. Nhưng Ích-ma-ên, con Na-tha-nia quăng các thây vào đó cho đến khi
đầy giếng.
Ích-ma-ên
bắt tất cả các người khác ở Mích-ba: các con gái vua cùng những người còn sót
tại đó. Họ là những người mà Na-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ chỉ định
Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, chăm sóc. Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia bắt họ và lên
đường băng qua xứ dân Am-môn.
Giô-ha-nan
con Ca-rê-a và các sĩ quan ở với ông nghe biết tất cả những điều ác Ích-ma-ên,
con Nê-tha-nia đã làm. Nên họ mang thuộc hạ
đi đánh Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia và bắt được hắn gần hồ lớn ở Ghi-bê-ôn. Khi các tù binh mà
Ích-ma-ên đã bắt thấy Giô-ha-nan và các sĩ quan thì vô cùng mừng rỡ. Cho nên tất cả mọi
người bị Ích-ma-ên bắt làm tù binh từ Mích-ba quay lại và chạy đến Giô-ha-nan,
con Ca-rê-a. Nhưng Ích-ma-ên, con
Nê-tha-nia cùng với tám người chạy thoát khỏi Giô-ha-nan trốn đến dân Am-môn.
Giô-ha-nan,
con Ca-rê-a và các sĩ quan của ông cứu thoát các tù binh mà Ích-ma-ên, con
Nê-tha-nia đã bắt từ Mích-ba sau khi hắn giết Ghê-đa-lia, con A-hi-cam. Trong
số những người còn sống sót có các binh sĩ, đàn bà, trẻ con và các sĩ quan
trong cung vua. Giô-ha-nan mang họ trở về từ thành Ghi-bê-ôn.
Trốn qua Ai-cập
-Giô-ha-nan
và các sĩ quan khác sợ người Ba-by-lôn vì vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia, con
A-hi-cam làm tổng trấn Giu-đa nhưng Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã giết ông nên
Giô-ha-nan sợ người Ba-by-lôn sẽ nổi giận. Họ định trốn qua Ai-cập. Trên đường
đi họ ghé lại Ghê-rút Kim-ham, gần thành Bết-lê-hem.
…..
Chương bốn mươi hai.
Trong khi ở đó, Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và
Giê-xa-nia, con Hô-sai-gia đến viếng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Tất cả các sĩ quan
và toàn thể dân chúng thuộc mọi tầng lớp đều đi theo. Họ nói với ông, “Giê-rê-mi,
xin nghe điều chúng tôi yêu cầu. Hãy cầu xin CHÚA là Thượng Đế ông cho những
người còn sống sót từ gia đình Giu-đa. Trước kia chúng tôi rất đông đảo nhưng
nay như ông thấy, chúng tôi chỉ còn lại rất ít. Cho nên xin ông cầu hỏi CHÚA
là Thượng Đế ông xem chúng tôi nên đi đâu hay làm gì.”
Nhà tiên tri Giê-rê-mi đáp, “Ta hiểu các ngươi muốn ta làm
gì rồi. Ta sẽ cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế các ngươi theo như các ngươi yêu cầu rồi
ta sẽ bảo cho các ngươi biết mọi điều Ngài phán, không giấu diếm các ngươi điều
gì.”
Dân chúng nói cùng Giê-rê-mi, “Nguyện CHÚA làm nhân chứng
chân thật và trung tín nghịch lại chúng tôi nếu chúng tôi không làm mọi điều
CHÚA là Thượng Đế ông sai ông bảo chúng tôi. Dù chúng tôi có thích nghe lời
Ngài phán hay không cũng không sao. Chúng tôi sẽ vâng theo CHÚA là Thượng Đế chúng
ta, Đấng mà chúng tôi nhờ ông khẩn cầu. Chúng tôi sẽ vâng theo lời Ngài phán để
phúc lành sẽ đến trên chúng tôi.”
Mười ngày sau CHÚA phán cùng Giê-rê-mi. Giê-rê-mi liền gọi Giô-ha-nan,
con Ca-rê-a, các sĩ quan đi với ông cùng toàn thể dân chúng thuộc mọi tầng lớp. Ông nói với họ, “Các ngươi sai
ta đi cầu hỏi CHÚA về điều mình muốn. Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau: ‘Nếu các ngươi ở lại Giu-đa,
ta sẽ xây các ngươi lên chớ không phá đổ xuống. Ta sẽ trồng các ngươi chớ không
nhổ lên vì ta rất buồn về thảm họa mà ta mang đến cho các ngươi. Bây giờ các ngươi sợ vua
Ba-by-lôn nhưng đừng e sợ người nữa. Đừng sợ người,’ CHÚA phán, ‘vì ta ở với
các ngươi. Ta sẽ giải cứu và giải thoát các ngươi khỏi quyền lực người. Ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng các
ngươi, và người cũng sẽ lấy lòng thương xót đối với các ngươi và để các ngươi sống
trong xứ mình.’
Nhưng nếu các ngươi nói, ‘Chúng tôi sẽ không ở trong xứ
Giu-đa,’ tức là các ngươi không vâng lời CHÚA là Thượng Đế mình. Hay nếu các ngươi nói, ‘Không,
chúng tôi sẽ đi xuống sống ở Ai-cập. Ở đó chúng tôi sẽ không thấy giặc giã,
không nghe tiếng kèn trận, hay bị đói kém.’ Nếu các ngươi nói như thế thì
hãy nghe lời CHÚA phán cùng các ngươi là những người còn sống sót trong Giu-đa.
CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Nếu các ngươi nhất định đi xuống
sống ở Ai-cập thì những việc sau đây sẽ xảy đến: Các ngươi sợ giặc giã nhưng giặc
giã sẽ theo đuổi các ngươi ở xứ Ai-cập. Các ngươi lo bị đói kém nhưng đói kém sẽ
theo ngươi xuống Ai-cập và các ngươi sẽ chết ở đó. Ai đi xuống Ai-cập đều sẽ chết
vì chiến tranh, đói kém hay vì bệnh tật kinh khiếp. Không ai đi xuống Ai-cập mà
còn sống; sẽ không ai thoát khỏi những tai họa khủng khiếp mà ta sẽ giáng trên
chúng.’”
CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta đã tỏ cơn
thịnh nộ ta nghịch cùng dân cư Giê-ru-sa-lem. Cũng vậy, ta sẽ tỏ cơn thịnh nộ
ta cùng các ngươi khi các ngươi xuống Ai-cập. Các dân tộc khác sẽ nói xấu các
ngươi. Họ sẽ sửng sốt khi thấy những tai họa xảy đến cho các ngươi. Ngươi sẽ
thành một lời nguyền rủa và người ta sẽ sỉ nhục các ngươi. Các ngươi sẽ không
còn được nhìn thấy xứ Giu-đa nữa.”
“Hỡi các ngươi là những kẻ còn sống sót trong Giu-đa, CHÚA
phán cùng các ngươi, ‘Chớ đi xuống Ai-cập.’ Các ngươi phải hiểu rõ điều đó; hôm
nay ta cảnh cáo trước cho các ngươi rằng, các ngươi đã lầm lẫn và sự lầm lẫn đó đưa đến cái chết cho các ngươi. Vì
các ngươi nhờ ta cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế mình rằng, ‘Hãy cầu hỏi CHÚA là Thượng
Đế giùm cho chúng tôi. Xin hãy cho chúng tôi biết điều CHÚA là Thượng Đế chúng
tôi phán thì chúng tôi sẽ làm theo.’ Cho nên hôm nay ta đã bảo cho các ngươi biết, nhưng các ngươi không vâng
theo lời CHÚA là Thượng Đế các ngươi là Đấng sai ta nói cho các ngươi biết. Vì các ngươi phải hiểu rõ điều
nầy: Các ngươi sẽ chết vì chiến tranh, đói kém, và dịch lệ ở xứ mà các ngươi muốn
đi đến định cư.
……………….
Chương bốn mươi ba.
Vậy Giê-rê-mi thuật lại cho họ hết mọi lời
của CHÚA là Thượng Đế họ; ông thuật lại cho họ nghe mọi điều CHÚA là Thượng Đế
họ phán dặn ông.
A-xa-ria, con Hô-sai-gia, Giô-ha-nan con Ca-rê-a, và mấy người
nữa rất tự phụ. Họ bảo Giê-rê-mi, “Ông nói dối! CHÚA không có sai ông để bảo rằng,
‘Các ngươi không được xuống sống ở Ai-cập.’ Chính Ba-rúc, con Nê-ri-a xúi
ông nghịch cùng chúng tôi. Hắn muốn trao chúng tôi vào tay người Ba-by-lôn để
giết chúng tôi hay bắt chúng tôi đày sang Ba-by-lôn.”
Vậy Giô-ha-nan, các sĩ quan và toàn thể dân chúng bất tuân mệnh
lệnh CHÚA bảo phải ở lại Giu-đa. Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và các sĩ quan mang các người còn sót ở Giu-đa đi.
Họ là những người đã chạy trốn khỏi quân Ba-by-lôn sang các xứ khác nhưng đã trở
về sống ở Giu-đa. Họ mang theo đàn ông, đàn bà, trẻ con, và các con gái vua.
Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ đã đặt Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu
Sa-phan cai trị họ. Giô-ha-nan cũng bắt nhà tiên tri Giê-rê-mi theo và Ba-rúc,
con Nê-ri-a. Họ không nghe lời CHÚA. Cho nên tất cả đi xuống Ai-cập, đến thành Ta-phan-hết.
Ở Ta-phan-hết CHÚA phán như sau với Giê-rê-mi: “Hãy lấy mấy tảng đá lớn. Chôn
chúng vào đất sét nơi lề đường lát gạch trước cung vua Ai-cập ở Ta-phan-hết.
Hãy làm trước mắt dân Do-thái. Rồi bảo họ, ‘CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta sắp sửa sai
tôi tớ ta là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Ta sẽ đặt ngôi người trên các tảng
đá nầy mà ta đã chôn, và người sẽ lấy lọng che trên chúng. Người sẽ đến tấn công Ai-cập.
Người sẽ mang cái chết đến cho kẻ phải chết, cầm tù những kẻ phải bị cầm tù và
mang chiến tranh đến cho những kẻ phải bị giết bằng gươm. Nê-bu-cát-nết-xa sẽ phóng hỏa
các đền thờ của các thần Ai-cập và thiêu đốt chúng. Người sẽ cướp đi hết các thần
tượng. Người dọn Ai-cập sạch sẽ như người chăn chiên gỡ hết các con rận ra khỏi
áo lông của mình. Rồi người sẽ thong dong rời Ai-cập. Người sẽ tiêu hủy các trụ thờ
trong đền thờ thần mặt trời ở Ai-cập và sẽ thiêu rụi đền thờ các thần của
Ai-cập.
…………………
Chương bốn mươi bốn.
Chúa cảnh cáo dân Giu-đa
Giê-rê-mi nhận được lời của CHÚA dành cho tất
cả các người Giu-đa đang sống ở Ai-cập: trong các thành Mi-đôn, Ta-phan-hết,
Mem-phít, và vùng nam Ai-cập. Lời đó như sau: CHÚA
Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Các ngươi đã thấy những điều khủng
khiếp ta giáng trên Giê-ru-sa-lem và các thị trấn Giu-đa là những nơi hiện nay
trở thành hoang tàn không ai ở vì dân chúng sống ở đó
đã làm điều ác. Chúng chọc giận ta bằng cách đốt hương và bái lạy các thần khác
mà chính chúng, các ngươi hay tổ tiên các ngươi chưa hề biết. Nhiều
lần ta sai các tôi tớ ta, tức các nhà tiên tri đến với các ngươi. Ta phán qua
họ rằng, ‘Chớ làm điều ghê tởm nầy mà ta ghét.’ Nhưng
chúng không nghe cũng không thèm để ý đến. Chúng vẫn cứ làm ác và dâng hương
cho các thần khác. Cho nên ta tỏ cơn
thịnh nộ ta trên chúng. Ta trút cơn giận ta trên các thị trấn Giu-đa và các
đường phố Giê-ru-sa-lem để những nơi đó thành chỗ đổ nát và đống đá vụn cho đến
hôm nay.”
Bây giờ CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Tại sao
các ngươi tự chuốc họa vào thân như vậy? Các ngươi đã cắt đứt đàn ông, đàn bà,
trẻ con và hài nhi khỏi Giu-đa, không chừa lại cho mình một người nào trong
Giu-đa hết. Tại sao các ngươi muốn chọc giận ta bằng cách
tạc tượng các tà thần? Tại sao các ngươi đốt hương cho các thần của Ai-cập nơi
các ngươi sống? Các ngươi chỉ tự hủy hoại mình thôi. Các dân tộc khác sẽ nói
xấu ngươi và chế giễu ngươi. Các ngươi đã quên
những việc ác mà tổ tiên các ngươi làm rồi sao? Các ngươi đã quên điều ác các
vua và hoàng hậu Giu-đa làm rồi sao? Các ngươi đã quên điều ác ngươi và vợ các
ngươi làm rồi sao? Những điều ác đó đã diễn ra trong xứ Giu-đa và trên các
đường phố Giê-ru-sa-lem. Thậm chí cho đến ngày
nay dân Giu-đa vẫn còn quá tự phụ. Chúng không chịu tôn kính ta hay vâng theo
lời giáo huấn ta. Chúng không vâng giữ luật lệ ta ban cho các ngươi và tổ tiên
các ngươi.”
Vì thế nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Các ngươi
phải biết rằng ta nhất quyết giáng thảm họa trên các ngươi. Ta sẽ tiêu diệt
toàn thể gia đình Giu-đa. Một số ít dân còn sống
sót của Giu-đa nhất định đi xuống định cư ở Ai-cập nhưng tất cả chúng nó đều sẽ
chết ở đó. Chúng đều sẽ bị giết vì giặc giã hay chết vì đói kém. Từ sang đến
hèn đều sẽ bị giết vì giặc giã hay chết vì đói kém. Các dân tộc khác sẽ nói xấu
chúng. Người ta sẽ sửng sốt khi nhìn thấy số phận chúng. Chúng sẽ trở thành lời
nguyền rủa, người ta sẽ sỉ nhục chúng. Ta
sẽ trừng phạt những kẻ đi xuống sinh sống ở Ai-cập như ta đã trừng phạt
Giê-ru-sa-lem bằng gươm giáo, đói kém và dịch lệ. Sẽ
không có ai trong số những kẻ còn sống sót của Giu-đa đã đi xuống sinh sống ở
Ai-cập thoát khỏi sự trừng phạt của ta. Chúng sẽ muốn trở về Giu-đa và sinh
sống nhưng sẽ không có một ai trở về ngoại trừ một số rất ít trốn thoát được.”
Một số đông người Giu-đa sống ở miền Nam Ai-cập họp nhau lại.
Trong đó có nhiều người đàn bà Giu-đa đã đốt hương cho các thần khác, và chồng
họ biết chuyện ấy. Họ nói cùng Giê-rê-mi, “Chúng
tôi sẽ không nghe lời CHÚA mà ông nói cùng chúng tôi. Chúng
tôi đã hứa dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và chúng tôi chắc chắn sẽ thực
hiện những điều chúng tôi đã hứa. Chúng tôi sẽ đốt hương và đổ của lễ uống ra
để bái lạy nữ thần đó như chúng tôi, tổ tiên chúng tôi, các vua và các quan
chức đã làm trước kia. Tất cả chúng tôi đã làm như thế trong các thị trấn
Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem. Lúc chúng tôi thờ lạy Nữ vương
trên trời thì chúng tôi có dư thực phẩm và thịnh vượng, không gặp điều chẳng
lành nào. Nhưng từ khi chúng tôi ngưng dâng sinh tế cho
Nữ vương trên trời và ngưng dâng của lễ uống cho Nữ vương thì chúng tôi gặp đủ
thứ hoạn nạn. Dân cư chúng tôi bị chết vì giặc giã và đói kém.”
Rồi các người đàn bà lên tiếng, “Chồng chúng tôi biết chuyện
chúng tôi làm. Chúng tôi được phép của chồng mình để đốt hương cho Nữ vương
trên trời và đổ của lễ uống ra cho nàng. Chồng chúng tôi biết chúng tôi làm
bánh trông giống mặt nàng và đổ của lễ uống ra cho nàng.”
Giê-rê-mi liền nói cùng tất cả dân chúng, cả đàn ông lẫn đàn bà
là những người đã trả lời với ông. Ông
bảo, “CHÚA nhớ lại rằng các ngươi và tổ tiên các ngươi, các vua và các quan
chức cùng toàn dân trong xứ đã đốt hương trong các thị trấn Giu-đa và trong các
đường phố Giê-ru-sa-lem. Ngài nhớ lại và suy nghĩ về điều ấy. Và
rồi Ngài không thể nhẫn nhục với các ngươi được nữa. Ngài gớm ghê những điều
các ngươi làm cho nên Ngài biến xứ các ngươi thành sa mạc hoang vu không ai ở.
Các dân khác nguyền rủa xứ đó. Ngày nay vẫn như thế. Những
việc đó xảy đến vì các ngươi dâng hương cho các thần khác. Các ngươi phạm tội
cùng CHÚA, không vâng lời Ngài, không giữ giao ước Ngài hay luật lệ Ngài
ban cho các ngươi. Vì thế thảm họa nầy xảy đến cho các ngươi như các ngươi thấy
ngày nay.”
Rồi Giê-rê-mi nói cùng các người đàn ông và đàn bà đó rằng,
“Hỡi dân Giu-đa hiện đang sống trong xứ Ai-cập, hãy nghe lời CHÚA: CHÚA
Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Các ngươi và vợ các ngươi đã làm điều
mình nói. Các ngươi nói, ‘Chúng tôi nhất quyết giữ lời hứa của chúng tôi. Chúng
tôi đã hứa dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và đổ của lễ uống ra cho nàng.’
Cho nên hãy làm đi. Hãy làm điều các ngươi hứa và hãy giữ lời hứa đó. Nhưng
hãy nghe lời CHÚA phán. ‘Hỡi các người Do thái hiện đang sống ở Ai-cập hãy nghe
đây.’ CHÚA phán, ‘Ta đã nhân danh lớn của ta mà thề: Dân Giu-đa hiện đang sống
ở Ai-cập sẽ không còn được dùng danh ta để hứa nguyện nữa. Tại Ai-cập họ sẽ
không còn nói: Thật như CHÚA là Thượng Đế hằng sống …’ Các
ngươi phải biết rằng ta đang trông chừng chúng nó, không phải để chăm sóc chúng
mà là để làm hại. Dân Do-thái ở Ai-cập sẽ bị chết bằng gươm giáo hay đói kém
cho đến khi tất cả đều bị tiêu diệt. Một
số ít thoát chết khỏi gươm giáo sẽ từ Ai-cập trở về Giu-đa. Rồi những người
Giu-đa đã đến định cư tại Ai-cập, những kẻ còn sống sót sẽ biết rằng lời ta hay
lời của chúng nó thành sự thật.” CHÚA
phán, “Ta sẽ cho các ngươi một dấu hiệu để thấy ta sẽ trừng phạt các ngươi ở
đây tại Ai-cập. Khi các ngươi thấy dấu hiệu đó thì sẽ biết những lời ta nghịch
lại các ngươi chắc chắn sẽ thành sự thật.” CHÚA
phán: “Hóp-ra, vua Ai-cập hiện có những kẻ thù muốn giết nó. Ta sắp trao nó vào
tay các kẻ thù nó như ta đã trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa vào tay
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, là người muốn giết nó.”
……………………
Chương bốn mươi lăm.
Lời khuyên Ba-rúc
Vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con
Giô-xia làm vua Giu-đa thì Giê-rê-mi bảo cho Ba-rúc, con Nê-ri-a những điều sau
đây. Rồi Ba-rúc viết lại trên một cuộn giấy: “Hỡi
Ba-rúc, đây là lời CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán cùng ngươi: Ngươi
đã nói, ‘Khốn cho tôi! CHÚA đã giáng cho tôi sự buồn bã cùng với đau đớn! Tôi
kiệt lực vì đau khổ và không được nghỉ ngơi.’” CHÚA
phán, “Hãy bảo Ba-rúc như sau: ‘CHÚA nói: Các ngươi phải biết rằng ta sắp phá
sập những gì mà ta đã dựng lên, và ta sẽ nhổ lên vật mà ta đã trồng khắp nơi
trong Giu-đa. Hỡi Ba-rúc, ngươi đang tìm kiếm những việc lớn
cho ngươi. Đừng tìm nữa vì ta sắp mang thảm hoạ trên toàn dân, CHÚA phán vậy.
Ngươi sẽ đi nhiều nơi nhưng ta sẽ giúp ngươi bảo toàn mạng sống ở bất cứ nơi
nào ngươi đi.’
………………..
Chương bốn mươi sáu.
Lời giảng cho các dân
CHÚA
phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi về các dân tộc.
Sứ điệp cho Ai-cập
Lời
tiên tri về Ai-cập. Lời nầy dành cho quân đội của Nê-cô, vua Ai-cập là đạo quân
bị Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đánh bại ở thành Cạt-kê-mít trên sông
Ơ-phơ-rát. Việc đó xảy ra vào năm thứ tư khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm
vua Giu-đa. Lời CHÚA phán như sau cho Ai-cập:
“Hãy
chuẩn bị thuẫn lớn và nhỏ
để
xông ra mặt trận!
Hãy
thắng yên ngựa
và
leo lên lưng chúng!
Hãy
tiến vào vị trí ngươi để ra trận
và
đội nón sắt lên!
Hãy
đánh bóng gươm ngươi.
Hãy
mặc áo giáp vào!
Tôi
thấy gì?
Tôi
thấy đạo quân đang kinh hoàng,
quân
lính đang bỏ chạy.
Các
chiến sĩ chúng bị đánh bại.
Chúng
bỏ chạy nhanh
không
dám quay lại nhìn.
Bên
nào cũng thấy kinh hoàng!” CHÚA phán vậy.
“Người
chạy nhanh không thể trốn;
các
chiến sĩ mạnh dạn không thoát được.
Chúng
đều vấp té và ngã nhào ở hướng Bắc,
gần
bên sông Ơ-phơ-rát.
Người
nầy là ai mà nổi dậy như sông Nin,
như
các sông chảy cuồn cuộn?
Ai-cập
dậy lên như sông Nin,
như
các sông chảy cuồn cuộn.
Ai-cập
nói, ‘Ta sẽ nổi lên bao phủ khắp đất.
Ta
sẽ tiêu diệt các thành phố và dân cư trong đó!’
Hỡi
các lính cỡi ngựa, hãy xông ra trận!
Hỡi
các tài xế quân xa, hãy lái mạnh lên!
Hỡi
các chiến sĩ gan dạ, hãy tiến lên,
tức
các chiến sĩ từ các xứ Cút
và
Phút mang khiên,
và
các chiến sĩ từ Ly-đi dùng cung tên.
Nhưng
ngày đó thuộc về CHÚA
là
Thượng Đế Toàn Năng.
Lúc
ấy Ngài sẽ trừng phạt các dân ấy,
tương
xứng với tội lỗi chúng.
Gươm
sẽ giết cho đến khi xong,
cho
đến khi nó hết say máu.
Vì
CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng sẽ dâng sinh tế
trong
xứ miền Bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.
Hỡi
trinh nữ Ai-cập, hãy đi lên Ghi-lê-át lấy thuốc thơm!
Các
ngươi đã chuẩn bị nhiều thuốc thang,
nhưng
không hiệu nghiệm;
ngươi
sẽ không lành.
Các
dân đã nghe về sự sỉ nhục ngươi,
và
tiếng kêu la ngươi vang dậy đất.
Chiến
sĩ nầy chạy đâm đầu vào chiến sĩ kia;
rồi
cả hai cùng té nhào!”
Sau
đây là lời CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi về Nê-bu-cát-nết-xa, vua
Ba-by-lôn đang đến tấn công Ai-cập:
“Hãy
tuyên bố tin nầy trong Ai-cập,
và
giảng giải nó trong Mi-đôn.
Rao
nó ra trong các thành Mem-phít
và
Ta-phan-hết:
‘Hãy
chuẩn bị chiến tranh,
vì
quanh ngươi toàn là mặt trận.’
Hỡi
Ai-cập, sao các chiến sĩ ngươi bị giết?
Chúng
không đứng vững được
vì
CHÚA đã xô chúng ngã.
Chúng
ngã tới ngã lui
và
ngã chồng lên nhau.
Chúng
bảo, ‘Hãy đứng dậy.
Chúng
ta hãy trở về cùng dân tộc
và
quê hương chúng ta.
Chúng
ta phải chạy tránh khỏi lưỡi gươm quân thù!’
Trong
quê hương chúng các chiến sĩ đó kêu to,
‘Vua
Ai-cập chỉ là thùng rỗng.
Người
đã bỏ lỡ cơ hội nhận vinh hiển!’”
Danh
hiệu của Vua là CHÚA Toàn Năng.
Ngài
phán, “Thật như ta hằng sống,
một
lãnh tụ hùng mạnh mới sẽ đến.
Người
sẽ như núi Ta-bô trong vòng các núi,
như
núi Cạt-mên gần biển.
Hỡi
dân Ai-cập, hãy gói ghém hành trang
để
lên đường làm tù binh,
vì
Mem-phít sẽ bị tiêu diệt.
Nó
sẽ trở thành đống đổ nát, không ai ở.
Ai-cập
giống như bò cái tơ xinh đẹp,
nhưng
một con mòng bay đến
từ
phương Bắc chích nó.
Các
lính đánh thuê của đạo quân Ai-cập
như
bò con mập,
cùng
nhau quay lưng bỏ chạy;
chúng
không chống nổi cuộc tấn công.
Vì
thời kỳ hủy diệt của chúng đã đến;
chúng
sắp bị trừng phạt.
Ai-cập
như con rắn phun nọc,
đang
tìm cách trốn thoát.
Kẻ
thù càng lúc càng tiến gần như vũ bão.
Chúng
mang rìu nghịch lại Ai-cập
như
người ta đốn cây.
Chúng
sẽ đốn đạo quân Ai-cập
như
đốn một khu rừng lớn,” CHÚA phán vậy.
“Lính
của quân thù đông hơn cào cào;
vô
số không thể đếm được.
Dân
Ai-cập sẽ bị sỉ nhục.
Chúng
sẽ bị trao vào tay kẻ thù
từ
phương Bắc.”
CHÚA
Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sắp trừng phạt A-môn, thần của
thành Thê-be. Ta cũng sẽ trừng phạt Ai-cập, các vua, các thần nó và những ai
trông cậy vào vua. Ta sẽ trao chúng cho
kẻ thù là những kẻ muốn sát hại chúng. Ta sẽ trao chúng cho Nê-bu-cát-nết-xa,
vua Ba-by-lôn và các sĩ quan người. Nhưng trong tương lai, Ai-cập sẽ sống an
bình như thuở trước,” CHÚA phán vậy.
Lời tiên tri cho Ít-ra-en
“Hỡi dân Gia-cốp, tôi tớ ta, đừng sợ;
hỡi Ít-ra-en, đừng kinh hãi.
Ta chắc chắn sẽ giải cứu ngươi
từ những nơi xa xăm
và giải thoát con cái ngươi
khỏi những xứ mà chúng bị cầm tù.
Dân Gia-cốp sẽ hưởng thái bình
và an ninh trở lại,
sẽ không ai khiến chúng sợ hãi nữa.
Hỡi dân Gia-cốp, tôi tớ ta, đừng sợ,
vì ta ở với các ngươi,” CHÚA phán vậy.
“Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt các dân tộc
mà ta đã đày các ngươi đến.
Nhưng ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt ngươi.
Ta sẽ sửa phạt ngươi một cách công bằng,
nhưng ta sẽ không để ngươi khỏi bị phạt.
…………………..
Chương bốn mươi bảy.
Lời tiên tri về dân Phi-li-tin
Trước khi vua Ai-cập tấn công thành Ga-xa,
CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Đây là lời tiên tri cho dân Phi-li-tin.
CHÚA phán như sau:
“Nầy, kẻ thù đang tập họp ở phía Bắc
như nước dâng.
Chúng sẽ như nước lũ tràn bờ
bao phủ cả xứ như cơn lụt lội,
luôn các thị trấn và dân cư sống trong đó.
Ai sống trong xứ cũng kêu cứu;
dân chúng sẽ kêu khóc thảm thương.
Chúng sẽ nghe tiếng ngựa phi
và tiếng quân xa ồn ào
cùng tiếng bánh xe rầm rập.
Cha mẹ không bảo vệ được con cái mình,
vì họ cũng quá yếu ớt.
Đã đến lúc toàn dân Phi-li-tin bị hủy diệt.
Đã đến lúc tiêu diệt những ai còn sống sót
là những kẻ có thể giúp đỡ hai thành Tia và Xi-đôn.
CHÚA sắp sửa tiêu diệt dân Phi-li-tin,
tức những kẻ còn sống sót trên đảo Cơ-rết.
Dân cư thành Ga-xa sẽ buồn thảm và cạo đầu.
Dân cư thành Ách-kê-lôn sẽ im lặng.
Hỡi những kẻ còn sống sót trong thung lũng,
các ngươi tự cắt thịt mình cho đến chừng nào?
Các ngươi kêu, ‘Hỡi gươm của CHÚA,
ngươi sẽ đánh cho đến bao giờ?
Hãy tra vào vỏ trở lại.
Hãy thôi và nằm yên đi.’
Nhưng làm sao gươm Ngài nghỉ ngơi
khi CHÚA đã ra lệnh cho nó?
Ngài đã ra lệnh cho nó tấn công Ách-kê-lôn và vùng duyên hải.”
………………………..
Chương bốn mươi tám.
Lời tiên tri về Mô-áp
Đây là lời tiên tri về xứ Mô-áp. CHÚA Toàn
Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán:
“Khốn cho núi Nê-bô,
vì nó sẽ điêu tàn.
Thành Ki-ri-át-tha-im sẽ bị sỉ nhục
và bị chiếm lấy;
thành kiên cố đó sẽ bị hổ nhục và tan tành.
Mô-áp sẽ không được tán dương nữa.
Các người trong thị trấn Hết-bôn
đã dự định đánh bại Mô-áp.
Chúng bảo, ‘Chúng ta hãy đến thanh toán quốc gia đó!’
Hỡi thành của những Kẻ Điên,
ngươi cũng sẽ phải câm miệng.
Gươm sẽ đuổi theo ngươi.
Hãy nghe tiếng kêu khóc
từ thị trấn Hô-rô-na-im,
tiếng kêu hỗn độn và hủy phá lớn lao.
Mô-áp sẽ bị tan vỡ.
Con nhỏ của nó sẽ kêu cứu.
Dân cư Mô-áp sẽ đi lên đường
đến thị trấn Lu-hít,
vừa đi vừa khóc thảm thiết.
Trên con đường xuống Hô-rô-na-im
người ta nghe tiếng khóc đau khổ.
Hãy chạy đi! Hãy chạy cứu mạng!
Hãy chạy đi như bụi gai khô
bị gió thổi qua sa mạc.
Các ngươi cậy vào việc mình làm
và vào của cải mình,
cho nên các ngươi sẽ bị bắt.
Thần Kê-mốt sẽ bị đi đày
cùng với các thầy tế lễ và viên chức của nó.
Kẻ hủy diệt sẽ đến nghịch lại mỗi thành;
không thành nào thoát khỏi.
Thung lũng sẽ điêu tàn,
và vùng cao nguyên sẽ bị tiêu diệt,
như CHÚA đã phán.
Hãy ban cánh cho Mô-áp,
vì nó sẽ phải bỏ xứ mình.
Các thành của Mô-áp sẽ hoang vu,
không ai ở.
Đáng rủa thay cho những kẻ lơ là
khi làm việc CHÚA,
Đáng rủa thay cho những kẻ
không dùng gươm mình để giết.
Dân Mô-áp chưa hề biết khốn khó.
Chúng như rượu đang lắng đọng;
chưa hề được đổ từ bình nầy sang bình khác.
Chúng chưa hề bị bắt làm tù binh.
Cho nên rượu chúng vẫn có vị như cũ,
và mùi chúng không thay đổi.”
CHÚA phán, “Các ngươi phải biết,
sẽ đến lúc ta sai người để
đổ các ngươi từ bình nầy sang bình khác.
Họ sẽ trút hết các bình của Mô-áp
và đập bể các hũ của nó.
Dân Ít-ra-en tin vào thần của thành Bê-tên,
và cảm thấy xấu hổ khi không được giúp đỡ.
Cũng vậy, Mô-áp sẽ xấu hổ về thần Kê-mốt của mình.
Các ngươi không thể nói, ‘Chúng ta là chiến sĩ!
Chúng ta bạo dạn trong chiến trận!’
Kẻ hủy diệt Mô-áp cùng các thành nó đã đến.
Các thanh niên khoẻ mạnh nhất của nó
sẽ bị giết!” Vua phán vậy,
danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
“Ngày tận cùng của Mô-áp gần kề rồi,
nó sắp bị tiêu diệt.
Hỡi các ngươi là kẻ sống quanh Mô-áp,
hỡi các ngươi là kẻ biết đến nó,
hãy than khóc cho nó đi.
Hãy nói, ‘Quyền lực của kẻ cầm quyền bị bẻ gãy rồi;
Quyền lực và vinh hiển của Mô-áp
không còn nữa.’
Các ngươi là kẻ sống trong thành Đi-bôn,
hãy xuống khỏi ghế danh dự mình,
mà ngồi trên đất khô,
vì kẻ hủy diệt Mô-áp đã đến nghịch ngươi.
Nó đã phá hủy các thành
có vách kiên cố của ngươi.
Các ngươi là những kẻ sống trong thành A-rô-e,
hãy đứng bên đường mà nhìn.
Thấy người đàn ông đang bỏ chạy
và người đàn bà đang bỏ trốn.
Hãy hỏi họ, ‘Có chuyện gì vậy?’
Mô-áp nhục nhã vì nó bị điêu tàn rồi.
Hỡi Mô-áp, hãy kêu khóc lên!
Hãy loan báo nơi sông Ạc-nôn rằng:
Mô-áp đã bị tiêu diệt rồi.
Dân chúng trên vùng cao nguyên
đã bị trừng phạt.
Sự đoán phạt đã đến
trên các thành sau đây:
Hô-lôn, Gia-xa, và Mê-pha-át;
Đi-bôn, Nê-bô, và Bết Đíp-la-tha-im;
Ki-ri-át-tha-im, Bết-Ga-mun, và Bết-Mê-ôn;
Kê-ri-ốt và Bốt-ra.
Sự đoán phạt đã đến
trên các thành của Mô-áp, gần và xa.
Sức mạnh của Mô-áp đã bị cắt đứt,
cánh tay nó đã bị bẻ gãy rồi!” CHÚA phán vậy.
“Dân Mô-áp nghĩ mình lớn hơn CHÚA,
cho nên hãy trừng phạt chúng
cho đến khi chúng liểng xiểng như người say.
Mô-áp sẽ ngã té và lăn vào
chỗ chúng đã mửa,
Mọi người sẽ chê cười chúng.
Hỡi Mô-áp, ngươi đã chế giễu Ít-ra-en.
Ít-ra-en bị kẹt giữa lũ ăn trộm,
Nhưng khi nói về Ít-ra-en thì ngươi lắc đầu,
như thể ngươi tốt hơn nó.
Hỡi dân cư Mô-áp, hãy bỏ hoang các thị trấn ngươi
và đến sống giữa các tảng đá.
Hãy như chim cu đất làm tổ nơi cửa hang.
Chúng ta đã nghe rằng dân Mô-áp rất tự phụ,
vô cùng huênh hoang.
Chúng vô cùng tự phụ và huênh hoang,
trong lòng chúng rất hợm hĩnh.”
CHÚA phán, “Ta biết tính kiêu căng của Mô-áp,
nhưng tính ấy vô dụng.
Tính huênh hoang của nó,
cũng như việc nó làm đều giả dối.
Cho nên ta khóc lóc buồn bã vì Mô-áp,
vì mỗi người trong Mô-áp.
Ta than vãn cho dân thành Kiệt Ha-sê-rết.
Ta khóc lóc cho dân thành Gia-xe,
cho các ngươi, hỡi các cây nho
của thành Xíp-ma.
Trước kia các dây nho ngươi
vươn ra đến biển,
chạy dài đến tận Gia-xe.
Nhưng kẻ hủy diệt đã cướp lấy
hoa quả và trái nho ngươi.
Sự vui mừng và hạnh phúc
đã biến mất khỏi các đồng ruộng
bao la màu mỡ của Mô-áp.
Ta đã chận không cho rượu chảy ra
từ bàn ép rượu.
Không ai còn đạp trái nho
và reo hò vui vẻ nữa.
Có tiếng reo hò,
nhưng không phải reo hò vì vui vẻ.
Tiếng kêu khóc của chúng có thể nghe được từ các thị trấn
Mô-áp,
từ Hết-bôn cho đến Ê-lê-a-lê và Gia-hát.
Tiếng đó có thể nghe từ Xoa
cho đến tận Hô-rô-na-im
và Ết-lát Sê-li-si-gia.
Thậm chí các nguồn nước của Nim-rim
cũng đã khô cạn rồi.
Ta sẽ ngăn không cho Mô-áp dâng của lễ thiêu
nơi thờ phụng của chúng,
không cho chúng đốt hương
cho các thần của chúng,” CHÚA phán vậy.
“Vì thế mà lòng ta khóc lóc thảm sầu cho Mô-áp
như sáo thổi bản ai ca.
Nó rên rỉ như tiếng sáo
của dân Kiệt Ha-sê-rết.
Sự giàu có mà chúng kiếm được đã bị cướp mất.
Đầu nào cũng bị cạo trọc, râu đều bị cạo sạch.
Tay nào cũng bị cắt,
Ai cũng quấn vải sô quanh hông.
Dân chúng than khóc trên mỗi mái nhà ở Mô-áp,
trong chỗ công cộng.
Không còn gì ngoài nỗi thảm sầu,
vì ta đã đập bể Mô-áp như bình gốm
không ai dùng nữa,” CHÚA phán vậy.
“Mô-áp đã bể vụn rồi! Dân chúng đang than khóc!
Mô-áp quay mặt đi vì xấu hổ!
Dân cư quanh chúng chế giễu chúng.
Bao nhiều điều xảy đến khiến chúng sợ hãi.”
CHÚA phán như sau:
“Kìa, có ai đang đến,
như chim ó lao xuống vồ mồi từ trên không
và giương cánh ra trên Mô-áp.
Các thị trấn Mô-áp sẽ bị chiếm,
còn các thành có vách kiên cố sẽ thất thủ.
Lúc ấy các chiến sĩ Mô-áp sẽ kinh hoàng,
như đàn bà sắp sinh con.
Dân Mô-áp sẽ bị tiêu diệt,
vì chúng nghĩ mình lớn hơn CHÚA.
Sự kinh hãi, hố sâu,
và cạm bẫy đang chờ đợi ngươi đó,
hỡi dân cư Mô-áp,” CHÚA phán vậy.
“Dân chúng sẽ bỏ chạy vì sợ hãi,
nhưng sẽ rơi xuống hố.
Ai trèo được ra khỏi hố sẽ rơi vào bẫy.
Ta sẽ mang năm trừng phạt đến cho Mô-áp,”
CHÚA phán vậy.
“Dân chúng đã chạy khỏi kẻ thù hùng mạnh
và trốn đến Hết-bôn để an thân.
Nhưng lửa bốc cháy từ Hết-bôn;
cơn hỏa hoạn lan ra từ quê quán của Si-hôn,
vua Mô-áp.
Nó thiêu đốt các lãnh tụ của Mô-áp
hủy diệt những bọn tự phụ đó.
Hỡi Mô-áp, khốn cho ngươi!
Những kẻ thờ Kê-mốt đã bị hủy diệt.
Vì con trai các ngươi đã bị bắt làm tù binh,
con gái các ngươi bị đi đày.
Nhưng trong những ngày sắp đến,
ta sẽ phục hồi của cải cho Mô-áp,”
CHÚA phán vậy.
Đến đây chấm dứt sự đoán phạt cho Mô-áp.
…………………..
Chương bốn mươi chín.
Lời tiên tri về Am-môn
Sau
đây là lời tiên tri về dân Am-môn. CHÚA phán:
“Ngươi
nghĩ rằng Ít-ra-en không có con cái sao?
Ngươi
cho rằng không có ai thừa kế đất đai
khi
cha mẹ qua đời sao?
Nếu
vậy tại sao Mô-léc chiếm lấy đất Gát
và
dân Mô-léc định cư trong các thành Gát?”
CHÚA
phán, “Đến lúc ta sẽ khiến dân cư ở Ráp-ba, thủ đô của Am-môn nghe tiếng chiến
trận.
Nó
sẽ trở thành đồi gạch vụn điêu tàn,
còn
các thị trấn quanh nó sẽ bị thiêu đốt.
Chúng
đã đuổi dân Ít-ra-en ra khỏi xứ đó,
nhưng
nay Ít-ra-en sẽ đuổi chúng ra!”
CHÚA
phán vậy.
“Hỡi
dân thành Hết-bôn,
hãy
kêu khóc buồm thảm
vì
thành A-hi đã bị tiêu diệt rồi!
Hỡi
những kẻ sống ở Ráp-ba,
hãy
khóc lóc thảm thiết đi!
Hãy
mặc vải sô để bày tỏ nỗi buồn của mình và kêu khóc đi.
Hãy
chạy đây đó tìm nơi trú ẩn trong vách,
vì
Mô-léc sẽ bị bắt làm tù binh
cùng
với các thầy tế lễ và các viên chức nó.
Ngươi
khoe khoang về sức mạnh mình,
nhưng
sức lực ngươi đã tiêu hao rồi.
Ngươi
tin tưởng rằng của cải mình
sẽ
giải cứu mình.
Ngươi
tự nhủ, ‘Ai dám tấn công ta?’
Ngươi
phải biết rằng ta sắp mang kinh hoàng
đến
cho ngươi,
từ
mọi người sống quanh ngươi,”
CHÚA
Toàn Năng phán vậy.
“Ngươi
sẽ phải bỏ chạy,
không
ai gom ngươi lại.
Dân
Am-môn sẽ bị bắt làm tù binh.
Nhưng
đến thời điểm
ta
sẽ mang dân Am-môn về.”
CHÚA
phán vậy.
Lời tiên tri về Ê-đôm
Lời
tiên tri về Ê-đôm. CHÚA Toàn Năng phán như sau:
“Trong
thành Thê-man không còn sự khôn ngoan nữa hay sao?
Những
người khôn ngoan trong Ê-đôm
không
còn sáng kiến gì hay sao?
Họ
đã hết khôn ngoan rồi sao?
Hỡi
các ngươi là những kẻ sống
trong
thành Đê-đan,
hãy
chạy trốn trong các hang sâu,
vì
ta sẽ giáng đại họa lên dân Ê-sau.
Đến
lúc ta phải trừng phạt chúng.
Ai
hái trái nơi các dây nho ngươi
cũng
chừa lại một số.
Nếu
kẻ trộm đến ban đêm,
chúng
cũng chỉ đánh cắp đủ dùng.
Nhưng
ta sẽ lột trần Ê-đôm.
Ta
sẽ tìm ra hết những nơi trú ẩn của nó,
để
nó không thể trốn tránh khỏi ta.
Con
cái, thân nhân và láng giềng đều sẽ chết,
Ê-đôm
sẽ bị tuyệt diệt.
Hãy
để yên các trẻ mồ côi,
ta
sẽ chăm sóc chúng.
Còn
các người goá bụa của ngươi
có
thể tin cậy nơi ta.”
CHÚA
phán: “Ngươi phải biết rằng, có người không đáng bị trừng phạt mà vẫn phải uống
chén đau khổ. Hỡi dân cư Ê-đôm, các ngươi đáng phạt, cho nên ngươi sẽ không
tránh khỏi bị phạt. Ngươi chắc chắn phải uống chén đau khổ.” CHÚA phán, “Ta lấy
danh ta mà thề rằng thành Bốt-ra sẽ thành đống gạch vụn! Người ta sẽ sửng sốt
khi nhìn thấy cảnh đó. Họ sẽ sỉ nhục thành đó và nói xấu nó. Còn các thị trấn
xung quanh đó sẽ bị điêu tàn đời đời.”
Ta
có lời phán của CHÚA.
Một
sứ giả được sai đến các dân
với
mệnh lệnh như sau,
“Hãy
tập họp quân đội ngươi và tấn công nó!
Hãy
sẵn sàng chiến đấu!”
“Ta
sắp biến ngươi thành dân tộc bé nhỏ nhất,
mà
ai cũng ghét.
Hỡi
Ê-đôm, ngươi đã làm các dân tộc khác kinh hoảng,
nhưng
sự kiêu căng ngươi đã gạt ngươi.
Ngươi
sống trong các hang hốc nơi ghềnh đá
và
kiểm soát các đồi cao.
Dù
cho ngươi xây nhà nơi cao như tổ chim ưng,
ta
cũng sẽ kéo ngươi xuống,”
CHÚA
phán vậy.
“Ê-đôm
sẽ bị tiêu diệt.
Kẻ
qua người lại sẽ sửng sốt
khi
nhìn thấy các thành bị tiêu hủy,
và
kinh ngạc về những vết thương nó.
Ê-đôm
sẽ bị hủy diệt như hai thành
Xô-đôm
và Gô-mô-rơ
và
các thị trấn quanh đó,” CHÚA phán vậy.
“Sẽ
không ai ở đó!
Không
còn ai ở trong Ê-đôm nữa.”
“Như
sư tử từ bụi rậm gần sông Giô-đanh bước ra xông vào chuồng vững chắc để bắt
chiên, ta sẽ bất thần đánh đuổi Ê-đôm ra khỏi xứ nó. Ai là người ta chọn để làm
việc nầy? Không ai giống như ta, chẳng ai lôi ta ra tòa được. Không có lãnh tụ
nào địch lại ta nổi.”
Cho
nên hãy nghe điều CHÚA dự định
nghịch
cùng Ê-đôm.
Hãy
nghe điều Ngài nhất quyết
làm
cho dân thành Thê-man.
Ngài
chắc chắn sẽ lôi các bọn trẻ
của
Ê-đôm đi.
Quê
quán chúng sẽ sửng sốt
khi
nhìn thấy số phận chúng.
Nghe
tiếng Ê-đôm sụp đổ,
đất
liền rung chuyển.
Tiếng
kêu khóc của chúng
sẽ
vang đến tận Hồng hải.
CHÚA
sẽ như chim ưng lao xuống vồ mồi,
và
giương cánh ra trên thành Bốt-ra.
Lúc
ấy các binh sĩ Ê-đôm sẽ đâm ra hoảng sợ,
như
đàn bà sắp sinh đẻ.
Lời tiên tri về Đa-mách
Đây
là lời tiên tri về thành Đa-mách:
“Các
thị trấn Ha-mát và Ác-bát bị sỉ nhục,
vì
chúng đã nghe tin chẳng lành.
Chúng
đâm ra hoảng sợ.
Chúng
bị xao xuyến như biển động.
Thành
Đa-mách đã suy yếu.
Dân
chúng muốn trốn chạy;
Mọi
người đâm ra hốt hoảng.
Họ
cảm thấy đau đớn và khổ sở,
như
đàn bà sắp sinh con.
Đa-mách
xưa là thành ta vui thích.
Tại
sao dân chúng chưa rời thành nổi tiếng ấy?
Các
trai tráng nó chắc chắn sẽ chết
trong
công viên,
và
tất cả các binh sĩ nó
sẽ
bị giết vào lúc đó,”
CHÚA
Toàn Năng phán vậy.
“Ta
sẽ đốt các vách thành Đa-mách,
lửa
sẽ thiêu rụi các thành kiên cố
của
vua Bên-Ha-Đát.”
Lời tiên tri về Kê-đa và Hát-xo
Sau
đây là lời tiên tri về chi tộc Kê-đa và các nước của Hát-xo mà
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã đánh bại. CHÚA phán:
“Hãy
đến tấn công dân Kê-đa,
tiêu
diệt dân miền Đông.
Các
lều và bầy súc vật của chúng
sẽ
bị cướp đoạt.
Tài
sản chúng sẽ bị mang đi:
lều,
của cải, và lạc đà.
Người
ta sẽ kêu chúng nghe rằng,
‘Kinh
hoàng tứ phía!’
Hãy
chạy nhanh lên!
Hỡi
dân cư Hát-xo, hãy kiếm chỗ trốn đi!” CHÚA phán vậy.
“Vì
Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn
đã
âm mưu nghịch ngươi,
người
muốn đánh bại ngươi.
Hãy
đứng dậy tấn công dân đang sống thoải mái,
yên
trí rằng không ai đánh thắng mình nổi,” CHÚA phán vậy.
“Nó
không có cổng hay rào để bảo vệ mình.
Dân
cư nó sống lẻ loi.
Quân
thù sẽ đánh cắp các lạc đà của chúng,
cướp
các bầy súc vật đông đảo của chúng làm chiến lợi phẩm.
Ta
sẽ phân tán dân cắt tóc ngắn ra khắp đất,
và
mang thảm họa cho chúng từ bốn phương,” CHÚA phán vậy.
“Thành
Hát-xo sẽ trở thành hang của chó rừng;
nó
sẽ biến thành sa mạc hoang vu đời đời.
Sẽ
không có ai ở đó,
không
ai trú trong thành đó.”
Lời tiên tri về Ê-lam
Ít lâu sau khi Xê-đê-kia lên ngôi vua Giu-đa
thì CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Đây là lời tiên tri nghịch cùng dân
Ê-lam.
CHÚA Toàn Năng phán:
“Ta sắp bẻ gãy cây cung của Ê-lam,
tức sức mạnh vô song của nó.
Ta sẽ mang bốn gió nghịch lại Ê-lam từ bốn góc trời.
Ta sẽ phân tán dân nó ra khắp bốn hướng gió;
tù binh nó sẽ tản lạc khắp các nước.
Ta sẽ khiến cho Ê-lam hoảng sợ
trước mặt kẻ thù mình,
là những kẻ muốn tiêu diệt chúng.
Ta sẽ mang thảm họa đến cho Ê-lam
để chứng tỏ cơn thịnh nộ ta!” CHÚA phán vậy.
“Ta sẽ sai gươm đuổi Ê-lam
cho đến khi ta đã giết sạch chúng nó.
Ta sẽ lập ngôi ta trong Ê-lam
để chứng tỏ ta là vua,
ta sẽ tiêu diệt vua
và quần thần nó!” CHÚA phán vậy.
“Nhưng trong tương lai
ta sẽ phục hồi Ê-lam,” CHÚA phán vậy.
…………….
Chương năm mươi.
Lời tiên tri nghịch cùng Ba-by-lôn
Đây là lời tiên tri CHÚA phán nghịch cùng
Ba-by-lôn và dân cư nó qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
“Hãy loan báo điều nầy cho các dân.
Hãy giương cờ lên và nói cho chúng biết.
Hãy tuyên bố hết các lời nầy như sau:
‘Ba-by-lôn sẽ bị chiếm cứ.
Thần Bên sẽ bị sỉ nhục,
và thần Mạc-đúc sẽ hoảng sợ.
Các thần của Ba-by-lôn sẽ bị sỉ nhục,
và các thần tượng nó sẽ kinh hoàng!
Vì một dân từ phương Bắc sẽ tấn công Ba-by-lôn
biến nó thành sa mạc hoang vu.
Không ai ở đó,
cả người lẫn thú vật đều bỏ chạy.’”
CHÚA phán, “Lúc ấy,
dân Ít-ra-en và Giu-đa sẽ họp nhau lại.
Họ sẽ kêu khóc và tìm kiếm CHÚA
là Thượng Đế mình.
Họ sẽ hỏi thăm lối đi đến Giê-ru-sa-lem
rồi đi theo hướng đó.
Họ sẽ cùng nhau họp lại cho CHÚA.
Họ sẽ lập giao ước đời đời với Ngài,
một giao ước sẽ không bao giờ bị quên lãng.
Dân ta như chiên đi lạc.
Các lãnh tụ chúng đã hướng dẫn chúng đi lầm lạc
khiến chúng đi lang thang quanh các núi đồi.
Chúng quên nơi nghỉ ngơi của mình.
Ai thấy dân ta cũng làm hại chúng.
Còn các kẻ thù thì bảo,
‘Chúng ta đâu có làm gì quấy.
Vì dân ta đã phạm tội cùng CHÚA,
nơi an nghỉ thật của chúng,
là Thượng Đế mà tổ tiên chúng tin cậy.’
Hãy chạy trốn khỏi Ba-by-lôn,
ra khỏi xứ người Ba-by-lôn.
Như dê dẫn bầy súc vật.
Ta sắp mang các dân miền Bắc
nghịch lại Ba-by-lôn.
Chúng sẽ vào vị trí chuẩn bị tấn công nó,
và nó sẽ bị các dân miền Bắc bắt đi.
Các mũi tên nó như các binh sĩ tinh nhuệ
chẳng khi nào từ mặt trận mà trở về tay không.
Các kẻ thù sẽ chiếm đoạt tài sản
của dân Ba-by-lôn.
Chúng sẽ tha hồ lấy,” CHÚA phán vậy.
“Hỡi Ba-by-lôn, ngươi thích thú và hớn hở,
vì ngươi chiếm xứ ta.
Ngươi nhảy múa như bò cái tơ nơi bồn lúa.
Tiếng cười của ngươi như ngựa đực hí.
Mẹ ngươi sẽ xấu hổ;
người sinh ra ngươi sẽ bị sỉ nhục.
Chẳng bao lâu nữa Ba-by-lôn
sẽ trở thành dân thấp kém nhất trong các dân.
Nó sẽ trở thành sa mạc hoang vu, khô cằn.
Vì CHÚA nổi giận, cho nên không ai sống ở đó.
Nó sẽ hoàn toàn bị hoang vu.
Người qua kẻ lại nơi Ba-by-lôn sẽ sửng sốt.
Họ sẽ lắc đầu khi nhìn thấy các vết thương nó.
Hỡi các binh sĩ mang cung tên,
hãy bước vào vị trí chiến đấu nghịch Ba-by-lôn.
Hãy bắn tên các ngươi vào Ba-by-lôn!
Đừng để dành lại gì cả,
vì Ba-by-lôn đã phạm tội cùng CHÚA.
Hỡi các binh sĩ quanh Ba-by-lôn,
hãy reo tiếng chiến trận!
Ba-by-lôn đã đầu hàng rồi, các tháp nó đã đổ xuống,
các vách nó đã bị phá sập.
CHÚA đã trừng phạt dân cư nó
tương xứng với tội lỗi nó.
Các dân hãy giáng cho nó điều nó đáng lãnh;
Hãy làm cho nó như nó đã làm cho người khác.
Đừng để dân Ba-by-lôn trồng trọt
hay gặt hái.
Vì các binh sĩ nó đã ngược đãi tù binh.
Bây giờ hãy để mọi người trở về.
Ai nấy hãy về xứ mình.
Dân Ít-ra-en giống như bầy chiên tan lạc
bị sư tử săn đuổi.
Con sư tử đầu tiên ăn nuốt chúng là vua A-xy-ri.
Con sư tử cuối cùng ngấu nghiến xương chúng
là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn.”
Vì thế CHÚA Toàn Năng,
Thượng Đế của Ít-ra-en phán:
“Ta sẽ trừng phạt vua Ba-by-lôn và xứ nó
như ta đã trừng phạt A-xy-ri.
Nhưng ta sẽ mang dân Ít-ra-en
trở về đồng cỏ mình.
Chúng sẽ ăn trên núi Cạt-mên và Ba-san.
Chúng sẽ ăn no nê
trên các đồi Ép-ra-im và Ghi-lê-át.”
CHÚA phán,
“Lúc ấy, người ta sẽ đi tìm tội của Ít-ra-en, nhưng không tìm
được.
Họ sẽ kiếm lỗi của Giu-đa,
nhưng chẳng thấy đâu,
vì ta sẽ chừa lại một số dân sống sót
trong Ít-ra-en và Giu-đa
và ta sẽ tha thứ tội lỗi chúng.
Hãy tấn công xứ Mê-ra-tha-im.
Hãy đánh dân sống ở Bê-cốt.
Hãy rượt đuổi, đánh giết
và tận diệt chúng.
Hãy làm mọi điều ta truyền dặn các ngươi!”
CHÚA phán vậy.
“Tiếng chiến trận có thể nghe khắp xứ;
đó là tiếng phá hủy khắp nơi.
Ba-by-lôn trước kia là búa của cả đất,
nhưng nay búa đó đã gãy cán.
Xứ đó điêu tàn nhất trong các xứ.
Hỡi Ba-by-lôn, ta đã giăng bẫy cho ngươi,
ngươi sẽ bị sập bẫy trước khi ngươi biết.
Ngươi chiến đấu chống CHÚA,
nên ngươi bị khám phá và bị bắt làm tù binh.
CHÚA đã mở kho Ngài
và mang ra các vũ khí
của cơn thịnh nộ Ngài,
vì CHÚA Toàn Năng phải ra tay
trong xứ dân Ba-by-lôn.
Từ xa hãy đến đánh Ba-by-lôn.
Hãy mở toang các kho ngũ cốc của nó.
Hãy chất các xác chết nó như đống lúa.
Hãy tận diệt Ba-by-lôn
đừng để ai sống sót.
Hãy giết tất cả các trai tráng trong Ba-by-lôn;
hãy giết chúng như thú vật.
Khốn thay cho chúng
vì đến lúc chúng bị đánh bại;
đến lúc chúng bị trừng phạt.
Hãy lắng nghe tiếng người chạy thoát
khỏi xứ Ba-by-lôn!
Họ bảo cho Giê-ru-sa-lem biết
CHÚA là Thượng Đế chúng ta
đang trừng phạt Ba-by-lôn
xứng đáng với tội phá hủy đền thờ Ngài.
Hãy gọi các lính bắn cung
đến chống nghịch Ba-by-lôn.
Bảo họ vây thành đó,
đừng để ai trốn thoát.
Hãy báo trả nó về điều nó làm;
Hãy làm cho nó
như nó đã làm cho các dân khác.
Vì Ba-by-lôn đã hành động kiêu căng
nghịch lại CHÚA,
Đấng thánh của Ít-ra-en.
Cho nên các trai tráng nó sẽ bị giết
trong các đường phố nó.
Tất cả các chiến sĩ nó đều sẽ chết
trong ngày đó,” CHÚA phán vậy.
“Hỡi Ba-by-lôn, vì ngươi quá tự phụ cho nên ta nghịch ngươi,”
CHÚA Toàn Năng phán vậy.
“Ngươi phải biết rằng đến lúc ngươi phải bị trừng phạt,
Ba-by-lôn kiêu ngạo sẽ vấp ngã,
không ai đỡ dậy.
Ta sẽ châm lửa trong các thành nó,
thiêu hết mọi vật quanh nó.”
CHÚA Toàn Năng phán như sau:
“Dân Ít-ra-en và Giu-đa là tôi mọi.
Kẻ thù bắt chúng làm tù binh,
không chịu thả ra.
Nhưng Thượng Đế rất mạnh
nên sẽ chuộc chúng lại.
Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
Ngài chắc chắn sẽ dùng quyền năng mình bảo vệ chúng, để ban
cho xứ sự an nghỉ.
Nhưng Ngài sẽ không ban sự yên nghỉ
cho những kẻ sống trong Ba-by-lôn.”
CHÚA phán,
“Hãy để gươm giết những kẻ sống trong Ba-by-lôn
cùng các quan chức
và các người khôn ngoan của nó!
Hãy cho gươm giết các tiên tri giả của nó,
để chúng trở nên ngu dại.
Hãy để gươm giết các chiến sĩ nó,
thì chúng sẽ kinh hoàng.
Hãy để gươm giết ngựa và quân xa
cùng các lính đánh thuê từ các nước khác.
Rồi chúng sẽ kinh khiếp như đàn bà.
Hãy để gươm tấn công các kho tàng nó, để người ta cướp chúng
đi.
Hãy để gươm tấn công các nguồn nước nó
để chúng bị khô cạn.
Nó là xứ của thần tượng,
toàn dân bị điên dại vì chúng.
Các thú rừng và các con linh cẩu sẽ sống ở đó,
chim cú sẽ làm tổ nơi ấy,
nhưng sẽ không có ai sống ở đó cả.
Sẽ không bao giờ có ai ở đó nữa.
CHÚA đã tiêu diệt hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ
cùng các thị trấn quanh đó,” CHÚA phán vậy.
“Cũng vậy, sẽ không còn ai ở trong Ba-by-lôn,
không một ai ở đó cả.
Kìa! Một đạo quân đang kéo đến từ phương Bắc.
Một dân tộc hùng mạnh và các vua
đang nhóm họp tại từ khắp nơi trên thế giới.
Các đạo quân ấy có cung và giáo.
Các chiến sĩ rất hung bạo
và không biết thương xót.
Khi chúng cỡi ngựa đến,
thì nghe như tiếng biển gầm thét.
Chúng đứng vào vị thế sẵn sàng chiến đấu.
Hỡi thành Ba-by-lôn, chúng sẵn sàng tấn công ngươi.
Vua Ba-by-lôn nghe về những đạo quân đó,
thì bủn rủn vì sợ.
Cơn kinh khiếp chụp bắt người,
Như sự đau đớn của người đàn bà sắp sinh nở.
Như sư tử từ bụi rậm
gần sông Giô-đanh bước ra
xông vào chuồng vững chắc để bắt chiên,
ta sẽ bất thần đánh đuổi Ba-by-lôn
ra khỏi xứ chúng nó.
Ai là người ta chọn để làm việc nầy?
Không ai giống như ta,
chẳng ai lôi ta ra tòa được.
Không có lãnh tụ nào địch lại ta nổi.”
Cho nên hãy nghe điều CHÚA
dự định làm nghịch lại Ba-by-lôn.
Hãy nghe điều Ngài đã quyết định làm
cho dân thành Ba-by-lôn.
Ngài chắc chắn sẽ lôi các trai tráng
của Ba-by-lôn đi.
Quê quán chúng nó sẽ kinh hoàng
khi nhìn thấy số phận chúng nó.
Khi nghe Ba-by-lôn bị chiếm,
đất sẽ rung chuyển.
Dân chúng các nước sẽ nghe
tiếng kêu tuyệt vọng của Ba-by-lôn.
…………………
Chương năm mươi mốt.
CHÚA
phán:
“Ta
sắp mang gió tiêu diệt thổi đến
nghịch
cùng dân Ba-by-lôn.
Ta
sẽ sai dân ngoại quốc
đến
tiêu diệt Ba-by-lôn
như
gió thổi trấu bay đi.
Chúng
sẽ tiêu diệt xứ,
Các
đạo quân sẽ vây thành
khi
ngày tai họa xảy đến cho chúng.
Đừng
cho quân lính Ba-by-lôn
chuẩn
bị cung tên để bắn.
Đừng
để chúng khoác áo giáp vào.
Chớ
tội nghiệp cho các trai tráng Ba-by-lôn,
nhưng
hãy tận diệt quân đội nó.
Chúng
sẽ bị giết trong xứ Ba-by-lôn
và
ngã chết trong các đường phố mình.
CHÚA
là Thượng Đế Toàn Năng
không
lìa bỏ Ít-ra-en và Giu-đa,
mặc
dù chúng hoàn toàn có tội
trước
mặt Đấng Thánh của Ít-ra-en.
Hãy
chạy trốn khỏi Ba-by-lôn
để
cứu mạng!
Chớ
nán lại mà bị giết oan
vì
tội lỗi của Ba-by-lôn.
Đã
đến lúc CHÚA trừng phạt Ba-by-lôn;
Ngài
sẽ trừng phạt nó tương xứng với tội lỗi nó.
Ba-by-lôn
như chén vàng trong tay CHÚA,
chén
đã khiến cả đất say sưa.
Các
dân tộc uống rượu của Ba-by-lôn
và
đi lạng quạng.
Ba-by-lôn
bị sụp đổ và bẻ gãy bất thần.
Hãy
kêu khóc cho nó!
Hãy
lấy dầu xức chỗ đau nó,
may
ra nó sẽ được lành.
Các
dân ngoại quốc ở Ba-by-lôn nói,
‘Chúng
tôi tìm cách chữa trị Ba-by-lôn
nhưng
nó không thể lành được.
Cho
nên chúng tôi đành phải về xứ mình.
Sự
trừng phạt Ba-by-lôn thấu đến trời;
lên
đến tận mây.’
Dân
Giu-đa nói, ‘CHÚA chứng tỏ chúng ta đúng.
Hãy
đến Giê-ru-sa-lem thuật lại điều CHÚA là Thượng Đế chúng ta đã làm.’
Hãy
mài tên cho bén!
Hãy
nhấc thuẫn của ngươi lên!
CHÚA
đã giục giã các vua của Mê-đi,
vì
Ngài muốn tiêu diệt Ba-by-lôn.
CHÚA
sẽ trừng phạt chúng
cho
xứng với tội hủy phá đền thờ Ngài.
Hãy
giương cờ lên trên các vách thành Ba-by-lôn!
Hãy
mang thêm các lính gác.
Hãy
đặt lính gác vào vị trí,
sẵn
sàng đánh úp!
CHÚA
chắc chắn sẽ thi hành điều Ngài dự định
và
điều Ngài tuyên bố
sẽ
làm nghịch lại Ba-by-lôn.
Hỡi
dân Ba-by-lôn, các ngươi sống gần nước,
và
có lắm của cải,
nhưng
quốc gia các ngươi đã tận số rồi.
Mạng
sống ngươi bị cắt đứt.
CHÚA
Toàn Năng đã nhân danh mình
mà
thề rằng: ‘Hỡi Ba-by-lôn,
ta
sẽ khiến các binh sĩ thù nghịch tràn ngập ngươi,
chúng
đông như cào cào.
Chúng
sẽ đứng trên ngươi
reo
hò chiến thắng.’
CHÚA
đã dùng quyền năng Ngài dựng nên trái đất.
Ngài
dùng sự khôn ngoan mình
tạo
nên thế giới
và
dùng sự hiểu biết Ngài giăng các bầu trời ra.
Khi
Ngài gầm lên, các nguồn nước trên trời vang động.
Ngài
khiến sương mù bốc lên từ các góc đất.
Ngài
sai chớp đến với mưa
và
mang gió ra từ các kho chứa của Ngài.
Dân
chúng kém hiểu biết và ngu dại.
Các
thợ bạc xấu hổ vì các tượng chạm mình,
bởi
chúng chỉ là các thần giả,
không
có hơi thở.
Chúng
không có giá trị gì;
người
ta chế giễu chúng.
Khi
đem ra phân xử,
chúng
sẽ bị tiêu diệt.
Nhưng
Thượng Đế, Ngài là gia tài của Gia-cốp,
không
giống như các tượng chạm.
Ngài
làm nên mọi thứ,
và
chọn Ít-ra-en làm dân riêng cho mình.
Danh
Ngài là CHÚA Toàn Năng.
Các
ngươi là gậy chiến tranh của ta,
là
khí giới đánh giặc của ta.
Ta
dùng ngươi để đập nát các dân.
Ta
dùng ngươi để tiêu diệt các vương quốc.
Ta
dùng ngươi để đè bẹp ngựa và người cỡi.
Ta
dùng ngươi để chà nát quân xa
và
người điều khiển.
Ta
dùng ngươi để chà nát đàn ông, đàn bà, người già và người trẻ.
Ta
dùng ngươi để đè bẹp thanh niên, thiếu nữ.
Ta
dùng ngươi để chà nát kẻ chăn và bầy chiên.
Ta
dùng ngươi để chà đạp nông phu và trâu bò.
Ta
dùng ngươi để chà đạp các tổng trấn và các quan quyền.
Nhưng
ta sẽ báo trả Ba-by-lôn
và
tất cả dân cư nó về những điều ác chúng làm cho Giê-ru-sa-lem trước mắt ngươi,”
CHÚA
phán vậy.
CHÚA
phán,
“Hỡi
Ba-by-lôn, ngươi là hòn núi phá hủy,
ta
nghịch ngươi.
Ngươi
đã tiêu diệt cả xứ.
Ta
sẽ giơ tay ra nghịch ngươi.
Ta
sẽ xô ngươi xuống vực thẳm,
và
khiến ngươi trở thành một hòn núi
bị
cháy đen.
Sẽ
không ai tìm được trong Ba-by-lôn
tảng
đá nào đủ lớn để làm đá góc nhà nữa.
Người
ta sẽ không còn lấy đá từ Ba-by-lôn
để
làm nền nhà,
vì
thành của ngươi chỉ là
một
đống đổ nát đời đời,” CHÚA phán vậy.
“Hãy
giương cờ trên xứ!
Hãy
thổi kèn giữa các dân!
Hãy
chuẩn bị các dân để đánh Ba-by-lôn.
Hãy
gọi các nước A-ra-rát, Mi-ni,
và
Ách-kê-nát để đánh nó.
Hãy
chọn một viên tư lệnh
chỉ
huy đạo quân đánh Ba-by-lôn.
Hãy
đưa ngựa ra đông vô số như cào cào.
Hãy
chuẩn bị các dân đánh Ba-by-lôn:
các
vua Mê-đi, các quan tổng trấn
và
quần thần chúng,
cùng
mọi nước mà chúng thống trị.
Đất
rung chuyển và quằn quại đau đớn,
vì
CHÚA sẽ ra tay
làm
điều Ngài đã dự định cho Ba-by-lôn.
Ngài
sẽ biến Ba-by-lôn thành sa mạc hoang vu, không ai ở.
Các
chiến sĩ Ba-by-lôn đã ngưng đánh giặc.
Chúng
rút vào trong các thành kiên cố.
Sức
mạnh chúng không còn,
Chúng
hoảng hốt như đàn bà.
Nhà
cửa Ba-by-lôn đang bốc cháy.
Các
thanh cài cổng chúng đã gãy.
Hết
sứ giả nầy đến sứ giả khác;
sứ
giả nầy tiếp theo sứ giả kia.
Chúng
loan báo cho vua Ba-by-lôn biết
rằng
cả thành đã bị chiếm.
Các
chỗ băng qua sông đã bị chiếm,
và
các đầm lầy đang bốc cháy.
Tất
cả các chiến sĩ của Ba-by-lôn kinh hoảng.”
Đây
là điều CHÚA Toàn Năng,
Thượng
Đế của Ít-ra-en phán:
“Thành
Ba-by-lôn như sân đập lúa,
nơi
dân chúng đạp lúa lúc mùa gặt.
Sắp
đến kỳ gặt hái Ba-by-lôn rồi.
Nê-bu-cát-nết-xa,
vua Ba-by-lôn đã đánh bại
và
tiêu diệt chúng ta.
Trước
kia người bắt dân ta đi đày,
chúng
ta như bình trống không.
Người
như con trăn khổng lồ
nuốt
sống chúng ta.
Người
ăn no nê những vật tốt nhất của chúng ta,
rồi
nhả chúng ta ra.
Ba-by-lôn
đã làm những việc ghê gớm
để
hại chúng ta.
Bây
giờ hãy để Ba-by-lôn lãnh lại
những
việc đó,” dân cư Giê-ru-sa-lem nói vậy.
“Dân
Ba-by-lôn đã giết hại dân ta.
Bây
giờ hãy để chúng bị trừng phạt
cho
xứng với những điều chúng làm,”
Giê-ru-sa-lem
nói vậy.
CHÚA
Toàn Năng phán như sau:
“Hỡi
Giu-đa, ta sắp bảo vệ ngươi
và
chắc chắn trừng phạt Ba-by-lôn.
Ta
sẽ làm biển Ba-by-lôn khô cạn
và
các suối nước nó cạn khô.
Ba-by-lôn
sẽ trở thành đống đổ nát,
nơi
ở của chó rừng.
Người
ta sẽ kinh hoảng khi nhìn thấy điều đó.
Sẽ
không còn ai ở đó nữa.
Dân
chúng Ba-by-lôn gầm lên như sư tử tơ;
chúng
gầm gừ như sư tử con.
Chúng
hành động như sư tử hung hăng.
Ta
sẽ cho chúng ăn no nê
và
khiến chúng say sưa.
Chúng
sẽ la hét và cười đùa.
Chúng
sẽ an giấc ngàn thu,
không
bao giờ thức dậy nữa!” CHÚA phán vậy.
“Ta
sẽ khiến dân Ba-by-lôn bị giết.
Chúng
sẽ như chiên con,
như
chiên và dê sắp bị làm thịt.
Hãy
xem Sê-sắc đã bị thảm bại!
Niềm
kiêu căng của cả thế gian
đã
bị bắt làm tù binh.
Dân
chúng các quốc gia khác sửng sốt
khi
nhìn thấy số phận Ba-by-lôn,
và
những gì họ nhìn thấy khiến họ sợ hãi.
Biển
đã dậy lên trên Ba-by-lôn;
các
luồng sóng ầm ầm bao phủ nó.
Các
tỉnh thành của Ba-by-lôn
đã
bị điêu tàn và hoang vu.
Nó
đã trở thành xứ khô khan,
hoang
dại không ai ở.
Người
ta không thèm đi qua Ba-by-lôn nữa.
Ta
sẽ trừng phạt thần Bên của Ba-by-lôn.
Ta
sẽ khiến nó mửa ra điều nó đã ăn nuốt.
Các
dân sẽ không đến Ba-by-lôn nữa;
ngay
đến vách bao quanh thành
cũng
sẽ đổ xuống.
Hỡi
dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn!
Hãy
chạy cứu mạng!
Hãy
chạy trốn khỏi cơn thịnh nộ CHÚA.
Đừng
nản lòng;
sẽ
có tiếng đồn ra khắp xứ,
nhưng
đừng sợ.
Năm
nay có tiếng đồn nầy,
sang
năm có tiếng đồn khác.
Sẽ
có tiếng đồn về cuộc đánh nhau
khủng
khiếp trong xứ,
các
quan quyền đánh lẫn nhau.
Đến
lúc ta chắc chắn trừng phạt
các
tượng chạm của Ba-by-lôn,
cả
xứ sẽ bị sỉ nhục.
Sẽ
có vô số người chết nằm la liệt.
Rồi
trời và đất cùng mọi vật trên đất
sẽ
mừng rỡ về Ba-by-lôn.
Chúng
sẽ la lên vì đạo quân
từ
phương Bắc kéo đến
để
tiêu diệt Ba-by-lôn,” CHÚA phán vậy.
“Ba-by-lôn
phải đổ, vì nó giết dân Ít-ra-en.
Nó
giết mọi dân trên đất.
Hỡi
các ngươi là những kẻ thoát chết
khỏi
lưỡi gươm,
hãy
rời Ba-by-lôn ngay! Đừng chần chờ!
Hãy
nhớ lại CHÚA từ nơi xa xôi
và
hãy suy nghĩ về Giê-ru-sa-lem.”
“Chúng
ta là dân Giu-đa đã bị nhuốc nhơ,
vì
chúng ta đã bị sỉ nhục.
Chúng
ta đã bị xấu hổ,
vì
người lạ đã vào trong nơi thánh
của
đền thờ Chúa!”
Vì
thế CHÚA phán,
“Sắp
đến lúc ta sẽ trừng phạt
các
tượng chạm của Ba-by-lôn.
Những
kẻ bị thương sẽ kêu la khắp xứ đó.
Dù
cho Ba-by-lôn nổi lên cao đến tận trời,
dù
cho nó củng cố các thành phố cao nhất của nó,
ta
cũng sẽ sai người đến phá hủy nó,”
CHÚA
phán vậy.
“Ở
Ba-by-lôn người ta nghe tiếng kêu khóc.
Tiếng
của kẻ hủy diệt vang lên
trong
xứ dân Ba-by-lôn.
Vì
CHÚA đang tiêu diệt Ba-by-lôn
và
làm im bặt tiếng huyên náo
của
thành phố.
Các
kẻ thù gầm thét tiến đến như vũ bão.
Tiếng
gầm thét của chúng vang lên khắp nơi.
Vì
một đạo quân đã đến tiêu diệt Ba-by-lôn.
Các
binh sĩ nó đã bị bắt,
cung
tên nó đã bị gãy,
vì
CHÚA là Thượng Đế trừng phạt
người
làm điều ác.
Ngài
trừng phạt họ tương xứng với tội lỗi họ.
Ta
sẽ khiến các quan quyền
và
những kẻ khôn ngoan Ba-by-lôn say rượu,
cùng
với các quan tổng trấn,
sĩ
quan và các binh sĩ.
Rồi
chúng sẽ an giấc ngàn thu
không
bao giờ dậy nữa,” Vua phán vậy,
danh
Ngài là CHÚA Toàn Năng.
CHÚA
Toàn Năng phán:
“Vách
dầy của Ba-by-lôn
sẽ
hoàn toàn bị phá sập,
các
cổng cao của nó sẽ bị cháy tiêu.
Người
ta sẽ ra sức nhưng vô ích;
công
việc chúng chỉ như dầu thêm vào lửa!”
Lời tiên tri về Ba-by-lôn
Sau đây là lời nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với
Sê-rai-gia, con Nê-ria, cháu Ma-a-sê-gia. Sê-rai-gia bị đày sang Ba-by-lôn cùng
với Xê-đê-kia, vua Giu-đa vào năm thứ tư đời vua Xê-đê-kia, vua Giu-đa. Nhiệm
vụ của ông là chuẩn bị thức ăn và nơi ở cho vua trong chuyến lưu đày đó. Giê-rê-mi
đã ghi vào trong cuộn sách những việc kinh khiếp sẽ xảy đến cho Ba-by-lôn, tức
tất cả những lời nầy về Ba-by-lôn. Giê-rê-mi
bảo Sê-rai-gia, “Khi ngươi đến Ba-by-lôn hãy nhớ đọc những lời nầy cho mọi
người đều nghe. Rồi nói rằng, ‘Lạy
CHÚA, chính Ngài đã phán rằng Ngài sẽ tiêu diệt nơi nầy để không có người hay
súc vật nào sống ở đó. Nó sẽ bị hoang vu đổ nát đời đời.’ Sau
khi đọc xong cuộn sách nầy thì hãy lấy một tảng đá buộc vào nó và ném xuống
sông Ơ-phơ-rát. Rồi nói, ‘Cũng vậy,
Ba-by-lôn sẽ bị chìm không nổi lên được vì những điều kinh khiếp ta khiến xảy
ra cho nơi nầy. Dân cư nó sẽ tiêu tan.’”
Đến đây chấm dứt lời của Giê-rê-mi.
……………..
Chương năm mươi hai.
Thành Giê-ru-sa-lem thất thủ
Xê-đê-kia
được hai mươi mốt tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem.
Mẹ ông tên Ha-mu-tan, con gái Giê-rê-mi, quê quán ở Líp-na. Xê-đê-kia làm điều ác
trước mặt CHÚA, như Giê-hô-gia-kim đã làm. Những điều đó diễn ra ở Giê-ru-sa-lem và
Giu-đa vì CHÚA nổi thịnh nộ cùng họ. Cuối cùng Ngài ném họ ra khỏi mặt Ngài.
Xê-đê-kia
phản nghịch cùng vua Ba-by-lôn. Sau đó Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn kéo toàn quân đến
Giê-ru-sa-lem. Chúng đóng quân và xây chiến lũy quanh thành để tấn công nó. Đó
là ngày mười, tháng mười, năm thứ chín đời vua Xê-đê-kia. Thành bị vây hãm cho
đến năm thứ mười một đời vua Xê-đê-kia.
Đến
ngày chín tháng tư, trong thành bị nạn đói khủng khiếp; không còn thực phẩm
nữa. Rồi vách thành bị chọc
thủng, toàn đạo quân Giu-đa thừa bóng đêm chạy trốn. Họ rời thành qua cổng nằm
giữa hai vách gần vườn vua. Dù quân Ba-by-lôn đang vây thành, Xê-đê-kia và
thuộc hạ chạy trốn về hướng thung lũng sông Giô-đanh.
Nhưng
đạo quân Ba-by-lôn đuổi theo vua Xê-đê-kia và bắt được ông ở đồng bằng
Giê-ri-cô. Tất cả quân sĩ đều bỏ ông chạy tán loạn. Quân Ba-by-lôn bắt
Xê-đê-kia giải đến vua Ba-by-lôn ở thành Ríp-ba trong xứ Ha-mát. Rồi vua tuyên
án Xê-đê-kia tại đó. Tại Ríp-la, Vua
Ba-by-lôn giết các con trai vua Xê-đê-kia ngay trước mắt ông. Vua cũng giết tất
cả các viên chức của Giu-đa. Rồi vua móc mắt Xê-đê-kia, lấy xiềng sắt xích ông lại và giải
qua Ba-by-lôn. Vua nhốt Xê-đê-kia trong tù cho đến ngày ông qua đời.
Nê-bu-xa-ra-đan,
chỉ huy toán cận vệ và là tôi tớ của vua Ba-by-lôn kéo đến Giê-ru-sa-lem vào
ngày mười tháng năm. Đó là vào năm thứ mười chín đời Nê-bu-cát-nết-xa, vua
Ba-by-lôn. Nê-bu-xa-ra-đan phóng
hỏa đền thờ CHÚA, đốt cung vua và tất cả mọi nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem; các dinh
thự quan trọng đều bị thiêu đốt. Toàn đạo quân Ba-by-lôn dưới quyền chỉ huy của
viên tư lệnh toán cận vệ đặc biệt của vua phá sập tất cả mọi thành lũy quanh
Giê-ru-sa-lem. Nê-bu-xa-ra-đan, viên
tư lệnh của toán cận vệ đặc biệt của vua bắt làm tù binh một số người nghèo khổ
nhất, những người còn sót lại Giê-ru-sa-lem, những kẻ đã ra đầu hàng vua Ba-by-lôn,
và các thợ khéo còn lại tại Giê-ru-sa-lem. Nhưng ông chừa lại một số người nghèo khổ nhất
trong xứ để chăm sóc vườn nho và đồng ruộng.
Quân
Ba-by-lôn đập nát các trụ đồng, đế đồng, và chậu đồng lớn còn gọi là cái Biển
trong đền thờ CHÚA. Rồi họ mang các miếng đồng đó về Ba-by-lôn. Họ cũng mang các nồi,
xẻng xúc, đồ hớt tim đèn, chén bát, dĩa, và các vật dụng bằng đồng dùng trong
đền thờ. Viên tư lệnh của toán
cận vệ đặc biệt của vua cũng mang đi các chén bát, chảo đựng than nóng, chậu
lớn, nồi, chân đèn, chảo và các chén bát dùng trong của lễ uống. Ông cũng mang
đi tất cả những gì làm bằng vàng hay bạc.
Số
lượng đồng quá nhiều đến nỗi không thể cân được: hai cây trụ, một chậu lớn bằng
đồng gọi là cái Biển cùng với mười hai con bò đực đỡ bên dưới, các giá di động
mà vua Sô-lô-môn đã làm cho đền thờ CHÚA.
Mỗi
một cây trụ cao chín thước, chu vi sáu thước, bên trong rỗng ruột. Bề dầy của
mỗi trụ khoảng bảy phân. Chóp trụ của mỗi trụ
cao khoảng một thước sáu. Phần nầy được trang trí bằng một màng lưới có các
trái lựu đồng bao quanh. Trụ kia cũng có trái lựu và giống y như trụ thứ nhất. Có tất cả chín mươi
sáu trái lựu bao quanh các trụ. Phía trên màng lưới có tất cả một trăm trái
lựu.
Viên
chỉ huy của toán cận vệ đặc biệt của vua bắt Sê-rai-gia, thầy tế lễ cả,
Xô-phô-ni, thầy tế lễ phụ tá và ba người giữ cửa. Ông cũng bắt mang đi khỏi thành phố viên sĩ
quan lo về quân sĩ, bảy viên cố vấn vua, thư ký hoàng gia lo việc tuyển binh
cho quân đội, và sáu mươi người nữa thuộc Giu-đa có mặt ở đó khi thành phố thất
thủ. Nê-bu-xa-ra-đan, viên
chỉ huy bắt họ và giải đến trước vua Ba-by-lôn ở thành Ríp-la. Vua Ba-by-lôn giết họ
và họ chết ở Ríp-la trong xứ Ha-mát.
Vậy
dân Giu-đa bị bắt làm tù binh và đày ra khỏi xứ mình. Sau đây là số tù binh
Nê-bu-cát-nết-xa bắt mang đi:
trong
năm thứ bảy ba ngàn không trăm hai mươi ba người từ xứ Giu-đa.
Năm
thứ mười tám đời vua Nê-bu-cát-nết-xa: tám trăm ba mươi hai người từ
Giê-ru-sa-lem;
trong
năm thứ hai mươi ba đời Nê-bu-cát-nết-xa, Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy toán
cận vệ đặc biệt của vua bắt đi người Do
thái làm tù binh.
Tổng
cộng . người bị bắt làm tù binh.
Giê-hô-gia-kin được trả tự do
Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa bị giam trong ngục
ở Ba-by-lôn suốt ba mươi bảy năm. Vào năm Ê-vinh Mê-rô-đác lên ngôi vua
Ba-by-lôn thì ông thả Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa ra khỏi ngục. Ông trả tự do
cho Giê-hô-gia-kin vào ngày hai mươi lăm tháng mười hai. Ê-vinh
Mê-rô-đác lấy lời tử tế nói cùng Giê-hô-gia-kin và cho ông một chỗ danh dự cao
hơn các vua khác có mặt tại đó với ông ở Ba-by-lôn. Nên
Giê-hô-gia-kin cởi quần áo tù của mình ra và được ăn chung bàn vua suốt đời
ông. Mỗi
ngày vua Ba-by-lôn ban cho Giê-hô-gia-kin một phần lương thực. Giê-hô-gia-kin
được hưởng trợ cấp như vậy cho đến ngày ông qua đời.
……………………
No comments:
Post a Comment